Bài nghiên cứu tìm hiểu cách thức ý niệm hoá tình yêu của các nhà thơ trung đại và các nhà thơ mới được thể hiện qua ẩn dụ ý niệm tình yêu là sự gần gũi. Từ đó, bài viết cũng chỉ ra nét riêng trong tư duy thơ trung đại và thơ mới được thể hiện qua ẩn dụ ý niệm này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thơ trung đại thiên về lối miêu tả ước lệ, tượng trưng theo một phong cách chung còn thơ mới nhấn mạnh cảm xúc cá nhân trực tiếp và cá nhân hoá phong cách.
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, từ điển trực tuyến xuất hiện và đã khẳng định được tính tiện lợi so với từ điển giấy. Bài viết giới thiệu một số từ điển đơn ngữ trực tuyến tiếng Anh và tiếng Việt để thấy rõ đặc điểm và có cái nhìn toàn diện về các công trình từ điển trực tuyến tiếng Anh và tiếng Việt hiện nay.
Bài viết này phân tích đặc điểm (ngữ pháp ngữ nghĩa, ngữ dụng) của các từ phiếm định trên cứ liệu tục ngữ tiếng Việt. Việc minh chứng đặc điểm của chúng qua tục ngữ góp phần khẳng định vai trò của các yếu tố này trong hoạt động hành chức, giúp phân biệt rõ hơn đại từ phiếm định và đại từ nghi vấn khi chúng có cùng một hình thức ngữ âm. Quá trình phân tích cũng cho thấy biểu hiện phong phú và sự kết hợp linh hoạt của những từ phiếm định với những mục đích nói năng trong từng ngữ cảnh cụ thể của người Việt.
Dựa trên lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, bài viết nghiên cứu một số tác phẩm văn học (sau 1975) để tìm hiểu ý nghĩa của từ xưng hô trong việc thể hiện mối quan hệ vật chất giữa các nhân vật. Kết quả nghiên cứu cho thấy từ xưng hô không chỉ phản ánh cấu trúc xã hội mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thể hiện mối quan hệ thông qua các hành động vật lí giữa các nhân vật.
Nhóm từ chỉ tính cách trong tiếng Việt và tiếng Anh khá phong phú, đa dạng. Về cấu trúc và cách thức cấu tạo từ mới cũng có nhiều sự khác nhau giữa hai ngôn ngữ. Bài viết này tập trung vào nghiên cứu đối chiếu cấu tạo và ngữ nghĩa của chúng trong hai ngôn ngữ trên cơ sở khảo sát số lượng, phân tích cách thức cấu tạo từ và phương thức cấu tạo nghĩa của chúng. Kết quả khảo sát cho thấy số lượng từ ngữ chỉ tính cách trong tiếng Việt nhiều hơn tiếng Anh. Nhóm từ chỉ tính cách tích cực trong tiếng Việt luôn nhiều hơn nhóm từ chỉ tính cách tiêu cực trong nhiều phạm vi và nhiều hơn số lượng từ trong tiếng Anh. Về cách thức cấu tạo, tiếng Anh thường dùng tiền tố un-, in-.. tiếng Việt sử dụng nhiều các yếu tố cấu tạo từ như: vô, bất...và dùng yếu tố “tính” + một yếu tố chỉ tính cách riêng. Những sự giống và khác nhau này giúp cho người nước ngoài học tiếng Việt và người Việt học tiếng Anh nắm được nhóm từ này một cách hệ thống, dễ dàng.
Nghiên cứu này phân tích và so sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô, sử dụng khung lí thuyết Đánh giá do Martin và White (2005) đề xuất. Kết quả phân tích phần kết luận của các bài báo kinh tế viết bằng tiếng Anh trên các tạp chí uy tín cho thấy, các tác giả sử dụng Giọng điệu dị thanh cao, đặc biệt là Trao đổi và Phát biểu để tạo sự gắn kết với người đọc và thể hiện sự tự tin trong lập luận. So sánh giữa phần kết luận trong bài báo kinh tế vĩ mô và bài báo kinh tế vi mô cho thấy sự khác biệt thú vị về tần suất sử dụng một số Giọng điệu. Sự khác biệt này có thể liên quan đến bản chất của từng lĩnh vực và đối tượng độc giả mục tiêu. Nghiên cứu này đóng góp vào sự hiểu biết về cách thức các tác giả sử dụng Giọng điệu trong giao tiếp khoa học, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các yếu tố ngữ cảnh khi phân tích Giọng điệu.
So sánh ngữ nghĩa thời gian, phối cảnh và ẩn dụ ý niệm thời gian của hai cặp từ đối lập chỉ hướng không gian được chuyển di để chỉ thời gian trong tiếng Việt và tiếng Trung Quốc là trước, sau và 前, 后. Kết quả phân tích cho thấy sự khác nhau giữa trước, sau và 前, 后 phản ánh sự khác biệt về ngôn ngữ và tư duy giữa hai cộng đồng bản ngữ trong khi sự tương đồng giữa chúng củng cố thêm các phổ niệm trong ngôn ngữ tự nhiên.
Một trong các biểu hiện của ngôn ngữ mạng là hiện tượng sử dụng tiếng Anh dưới nhiều hình thức khác nhau. Bài báo chứng minh hiện tượng sử dụng tiếng Anh là một xu thế đang diễn ra trên trên mạng tiếng Nga và tiếng Việt. Bên cạnh đó bài báo cũng chỉ ra những điểm khác biệt trong việc sử dụng tiếng Anh trên mạng hai ngôn ngữ đến từ nguyên nhân do sự khác nhau về loại hình và hệ chữ viết.
Ứng dụng lí thuyết ẩn dụ tri nhận để tiến hành xác lập cấu trúc ý niệm, sơ đồ ánh xạ của cánh cửa (门) trong tiếng Hán; xác lập và phân tích sự ánh xạ từ miền nguồn cánh cửa (门) đến một số miền đích như: Địa vị xã hội, ranh giới các vấn đề xã hội, quan hệ xã hội.
Mục đích của bài viết là chỉ rõ ngữ nghĩa của hư từ cổ trong tiếng Việt thông qua các văn bản văn học và báo chí ở Nam Bộ cuối thế kỉ XIX. Với giả thiết đặt ra, liệu sự giao thoa của văn hóa Việt Nam trong thời kì này có làm biến đổi ngữ nghĩa của hư từ cổ trong tiếng Việt hay không?. Để làm rõ mục đích và giả thiết đặt ra, bài báo có nhiệm vụ làm sáng tỏ cơ sở lí thuyết, khảo cứu sự xuất hiện của hư từ cổ qua một số công trình của các nhà tư tưởng tiêu biểu, chỉ rõ sự thay thế hư từ cổ trong giai đoạn hiện nay.