Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 81 bệnh nhân gút cấp và mạn tính được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ACR/EULAR 2015, điều trị tại Trung tâm Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2025 đến tháng 4/2026. Kết quả cho thấy, tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 53,7 ± 15,3; 91,4% nam giới, chỉ số khuyết tật chức năng trung vị là 0,875 (IQR: 0,375 – 1,25). Có 20/81 bệnh nhân xuất hiện tình trạng tăng nhạy cảm đau lan tỏa theo bộ câu hỏi Generalized Pain Questionnaire, chiếm tỷ lệ 24,7%. Trong nhóm bệnh nhân có đau lan tỏa, các triệu chứng gặp phổ biến nhất gồm đau khi có kích thích nhẹ trên bề mặt da (100%), đau sau ma sát (95%), đau kéo dài sau khi kích thích đã chấm dứt (100%) và cảm giác đau dữ dội hơn bình thường khi tiếp xúc với kích thích (100%). Phân tích hồi quy logistic đa biến, mô hình đạt chỉ số AUC là 0,943; p < 0,001; 95% CI: 0,892 – 0,995, mức độ đau khớp theo VAS và nồng độ acid uric trong huyết thanh được xác định là các yếu tố dự báo độc lập với tình trạng đau lan tỏa, trong đó điểm đau khớp theo VAS có vai trò nổi bật (p = 0,006), OR = 8,132 (95% CI: 1,818 – 36,37).
Siro Liver Zen là sản phẩm được bào chế từ các dược liệu, với mục đích sử dụng dự kiến để hỗ trợ điều trị các bệnh lý gan như viêm gan và rối loạn chức năng gan. Nghiên cứu này nhằm đánh giá độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của siro Liver Zen trên chuột nhắt trắng chủng Swiss. Trong thử nghiệm độc tính cấp, chuột được cho uống siro với các mức liều tăng dần để xác định giới hạn an toàn.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 194 sinh viên điều dưỡng chính quy tại Trường Đại học Y Hà Nội – Phân hiệu Thanh Hóa năm 2025 nhằm mô tả quá trình ra quyết định lâm sàng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Kết quả: Điểm trung vị quá trình ra quyết định lâm sàng đạt 73 (IQR: 69 – 75), trong đó mức Bán phân tích – Trực giác chiếm ưu thế (75,3%). Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), giải thích 37,1% biến thiên của quá trình ra quyết định lâm sàng. Học lực, sự tự tin và điểm rèn luyện tốt là các yếu tố liên quan độc lập, trong đó học lực là yếu tố dự báo mạnh nhất trong mô hình.
Nghiên cứu hồi cứu trên 199 người bệnh ung thư biểu mô tuyến dạ dày được phẫu thuật nội soi triệt căn tại Bệnh viện K, giai đoạn 2019 – 2025 nhằm đánh giá kết quả sống thêm và các yếu tố tiên lượng với 2 mục tiêu chính: Đánh giá thời gian sống thêm toàn bộ và thời gian sống thêm không bệnh của người bệnh ung thư dạ dày được điều trị bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện K, giai đoạn 2019 – 2025; Phân tích một số yếu tố liên quan đến thời gian sống thêm toàn bộ của nhóm người bệnh trên.
Viêm cân mạc hoại tử (Necrotizing Fasciitis – NF) là nhiễm trùng mô mềm tiến triển nhanh với tỷ lệ tử vong và mất chi cao; trì hoãn phẫu thuật làm tăng nguy cơ sốc nhiễm khuẩn và suy đa tạng. Nghiên cứu báo cáo 2 trường hợp NF chi trên nặng điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 nhằm đánh giá vai trò của phẫu thuật kiểm soát ổ nhiễm khuẩn sớm kết hợp điều trị đa mô thức. Cả hai bệnh nhân đều được hồi sức tích cực, dùng kháng sinh phổ rộng, lọc máu liên tục khi cần và cắt lọc sớm song song với hồi sức. Sau kiểm soát nhiễm khuẩn, VAC, ghép da và chuyển vạt tự do được áp dụng để tái tạo tổn khuyết. Trường hợp 1 là NF type I sau rắn hổ mang cắn với nhiễm khuẩn đa vi khuẩn và hội chứng chèn ép khoang; trường hợp 2 là NF type III do Vibrio vulnificus trên nền suy giảm miễn dịch. Cả hai bệnh nhân được phẫu thuật trước khi huyết động ổn định hoàn toàn, sau đó cải thiện toàn thân rõ rệt và bảo tồn được chi thể.
Ung thư tuyến giáp thể biệt hóanguy cơ tái phát cao thường có đặc điểm xâm lấn rộng ngoài tuyến giáp, di căn hạch lớn và di căn xa, làm tăng tỷ lệ tái phát và tử vong. Nghiên cứu hồi cứu trên 79 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ tái phát cao được phẫu thuật tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội (01/2022 - 12/2023) cho thấy tỷ lệ xâm lấn thần kinh thanh quản quặt ngược, khí quản, thực quản lần lượt là 54,4%, 27,8% và 10,1%. Biến chứng sau mổ chủ yếu là khàn tiếng (25,3%) và tê bì tay chân (29,2%), với tỷ lệ biến chứng kéo dài > 6 tháng tương ứng là 10,1% và 12,7%. Nhóm xâm lấn rộng ngoài tuyến giáp (pT4a) có xu hướng biến chứng cao hơn (OR = 1,57), sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p = 0,519). Sau 6 tháng điều trị ban đầu, 39,2% đạt đáp ứng xuất sắc . Kết quả nhấn mạnh vai trò phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và vét hạch cổ trong kiểm soát tại chỗ và hỗ trợ điều trị I-131 ở nhóm nguy cơ cao.
Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kết cục thai kỳ xấu ở 230 sản phụ mắc tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ 01/2021 đến 12/2022 dựa vào thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án. Kết cục thai kỳ xấu được xác định khi có ít nhất một biến cố ở mẹ (tử vong, sản giật, HELLP, nhau bong non, tổn thương thận, phù phổi, xuất huyết não) hoặc ở con (thai nhẹ cân, chậm phát triển trong tử cung, tử vong chu sinh).
Medicell Plus Premium là một chế phẩm dùng ngoài da chứa 11% dịch chiết nuôi cấy tế bào gốc tủy xương, kết hợp với chiết xuất từ tế bào hoa nhung tuyết (Leontopodium alpinum), cùng nhiều peptid và collagen thủy phân. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng liền vết thương và ảnh hưởng toàn thân của Medicell Plus Premium trên chuột nhắt trắng chủng Swiss bị gây tổn thương da. Chuột nhắt trắng được gây tổn thương da ở vùng gáy, sau đó điều trị tại chỗ bằng gel Contractubex (0,1 g/lần, 2 lần/ngày) hoặc Medicell Plus Premium (0,15 mL/lần, 1 hoặc 2 lần/ngày) trong 14 ngày liên tục.
Dấu ấn miễn dịch dòng tủy là biểu hiện bất thường ở bệnh nhi lơ xê mi cấp dòng lympho (ALL). Phân tích trên 265 bệnh nhi T-ALL cho thấy 56/265 trường hợp (21,1%) đồng biểu hiện ít nhất một dấu ấn dòng tủy; kiểu hình thường gặp nhất là CD13−CD33+CD117− (67,9%), trong đó CD33 là dấu ấn biểu hiện mạnh nhất (44,6% có biểu hiện dương tính mạnh). Tỷ lệ thiếu máu nặng gặp ở 30,2%. Số lượng Bạch cầu (BC) tăng cao (trung vị BC 116,71). Nhóm có dấu ấn dòng tuỷ (My+T-ALL) có số lượng tiểu cầu cao hơn (108 G/L so với 49 G/L, p < 0,0001), số lượng BC thấp hơn (35,7 G/L so với 131,7 G/L, p < 0,0001). Như vậy, T-ALL trẻ em có tỷ lệ đáng kể đồng biểu hiện dấu ấn dòng tủy, đồng thời có đặc điểm huyết học ngoại vi khác biệt theo hướng số lượng BC thấp hơn, số lượng tiểu cầu cao hơn ở (My+T-ALL).
Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca bệnh, đánh giá độ an toàn và kết quả bước đầu điều trị rò thực quản bằng kỹ thuật hút áp lực âm qua nội soi. Tổng 11 trường hợp rò thực quản được điều trị bằng kỹ thuật hút áp lực âm qua nội soi (EVAC) tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (08/2023 - 03/2026). Tuổi trung vị là 61 tuổi (khoảng tứ phân vị 40 – 67,5 tuổi), tỷ lệ nam/nữ là 8/3. Rò miệng nối chiếm 36,4%, rò sau can thiệp 45,4% và rò tự phát 18,2%. Thời gian trung vị từ khi phẫu thuật đến khi chẩn đoán rò là 7 ngày; từ khi chẩn đoán rò đến khi đặt E-VAC là 7 ngày. Thời gian điều trị EVAC trung vị là 17 ngày với số lần thay EVAC trung vị 2 lần. Tỷ lệ đóng rò hoàn toàn đạt 72,7%. Thời gian nằm viện trung vị là 27 ngày (20 – 88 ngày). Kỹ thuật hút áp lực âm qua nội soi là phương pháp ít xâm lấn, an toàn và có kết quả tốt trong điều trị rò thực quản.