Thanh điệu là một đơn vị âm vị siêu đoạn tính, vừa có chức năng từ vựng, vừa có thể có chức năng ngữ pháp. Số thanh của một ngôn ngữ cần được xem xét trong cùng một môi trường đồng nhất, và các thanh khác nhau có thể xác lập được các đơn vị khác nghĩa nhau. Tuỳ theo đặc điểm của Thanh điệu mà sử dụng một trong hai bộ kí hiệu IPA phù hợp. Bên cạnh hai bộ kí hiệu IPA (2020), cách miêu tả Thanh điệu bằng các số rất có ý nghĩa trong nghiên cứu ngữ âm học khí cụ, đặc biệt đối với NNÂĐ.
Trong tiếng Việt, có những trường hợp qua có thể thay thế cho sang và ngược lại. Tuy vậy giữa chúng vẫn có những điểm khác biệt. Bài báo này hướng đến làm sáng tỏ những điểm giống và khác nhau giữa qua và sang trong tri nhận và biểu đạt không gian, thời gian, tập trung vào các bình diện cấu trúc tham tố, phối cảnh chuyển động, quy chiếu, sự chuyển khung từ không gian sang thời gian của các từ hữu quan. Những điểm khác nhau được chỉ ra giúp làm sáng tỏ vì sao qua và sang cùng tồn tại dù điểm giống nhau giữa chúng là rất lớn.
Ẩn dụ ý niệm là một khái niệm phổ biến trong ngôn ngữ học, trong đó một khái niệm trừu tượng được hiểu thông qua một khái niệm cụ thể hơn. Trong tiếng Nhật, các thành ngữ có từ chỉ “目, め” (mắt) thường mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ, giúp làm sáng tỏ những khía cạnh khác nhau của văn hóa và tâm lí học người Nhật. Bài viết này góp phần làm sáng tỏ hơn những tư duy và văn hóa của người Nhật được thể hiện trong thành ngữ có từ chỉ “目, め” (mắt), giúp người học tiếng Nhật hiểu rõ hơn về cách ngôn ngữ này sử dụng các ẩn dụ ý niệm để biểu đạt những cảm xúc và ý tưởng phức tạp. Đồng thời, bài viết cũng chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong biểu thị ý nghĩa và biểu tượng giữa tiếng Việt và tiếng Nhật.
Giới thiệu về cách tiếp cận một số mô hình ngữ âm tiếng Anh tại môi trường giáp ranh giữa các từ trong chuỗi lời nói thông qua việc đối chiếu với mô hình ngữ âm tiếng Việt, ở chừng mực nào đó, bài báo có thể góp phần bổ sung phong phú nhận thức về lí thuyết ngôn ngữ nói chung và ngữ âm - âm vị của hai ngôn ngữ nói riêng.
Dịch là một kĩ năng tổng hợp. Để chuyển dịch tốt, ngoài việc phải có kiến thức vững vàng về hai ngôn ngữ, ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, các biên, phiên dịch viên cần phải hiểu biết sâu rộng hai nền văn hóa của hai dân tộc và phải nắm bắt và khai thác hợp lí các phép tu từ trong quá trình chuyển dịch. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến các phép tu từ thường gặp và cần phải khai thác một cách hợp lí trong quá trình dạy dịch.
Phân tích tầm quan trọng của Bước "Khởi Động" trong giảng dạy ngoại ngữ, đồng thời cung cấp một số gợi ý để xây dựng các hoạt động khởi động hiệu quả, giúp giáo viên thu hút và truyền cảm hứng cho học sinh ngay từ những phút đầu tiên của buổi học.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào các công thức biểu đạt hành vi lời nói từ chối lời mời gián tiếp của người Mỹ thu được trong 291 đoạn hội thoại từ chối gián tiếp trong tổng số 720 đoạn hội thoại từ chối mà tác giả thu thập được từ 35 tác phẩm văn học Mỹ và một số bộ phim Mỹ phát sóng trên truyền hình Việt Nam. Bài viết mong muốn giúp người đọc hiểu hơn về phương tiện biểu đạt hành vi từ chối gián tiếp lời mời có trong các chiến lược từ chối gián tiếp được người Mỹ ưa sử dụng, từ đó giúp cho người học tiếng Anh nâng cao hiệu quả trong quá trình giao tiếp, tránh những xung đột, những “cú sốc văn hóa”.
Bài viết này sẽ sử dụng phương pháp phân tích thành tố để phân tích nghĩa được sử dụng hiện nay trong tiếng Việt của các động từ đã nêu dựa theo cấu trúc tham tố nghĩa của chúng. Có thể nêu cấu trúc tham tố chung ở dạng đầy đủ của nghĩa các động từ động viên, khích lệ, cổ động, cổ vũ như sau: “chủ thể (X)/ Thúc đẩy/ trạng thái tâm lí - tinh thần (T)/ của đối tượng (Y)/ bằng phương tiện (P)/ trong hoạt động (H)”.
Lí thuyết pha trộn ý niệm làm sáng tỏ sự hình thành ý nghĩa và tích hợp thông tin của Fauconnier và cộng sự là một bước phát triển mới của ngôn ngữ học tri nhận. Bài viết trình bày ngắn gọn nguyên nhân, mục đích hình thành thuyết pha trộn ý niệm, phân tích một số ví dụ điển hình để thấy được tính năng động trong hình thành ý nghĩa, tính vô biên của không gian tinh thần, mối quan hệ giữa ánh xạ ý niệm và hoạt động sản sinh ý nghĩa dưới góc nhìn của thuyết này.
Trên cơ sở sử dụng phương pháp hệ thống hoá, bài viết này hướng tới giới thiệu với bạn đọc về quá trình hình thành, phát triển chuyên sâu về mặt lí thuyết và phương pháp cũng như những thành tựu của Ngữ pháp kết cấu như một cách tiếp cận ngôn ngữ trong ba thập kỉ qua với sự cống hiến của những nhà ngôn ngữ như Fillmore, Kay, Langacker, Lakoff, Goldberg, Croft…Nội dung của bài viết còn nhằm giới thiệu nhiều chủ đề trọng tâm hiện đang được giải quyết trong Ngữ pháp kết cấu và bàn về cách lĩnh vực này hiện đang mở rộng và tạo mối liên hệ với các lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ khác.