CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đề ngữ, chủ ngữ và tác nhân trong câu tiếng Việt và tiếng Anh theo lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống / Trần Thu Thủy // .- 2025 .- Số 7 .- Tr. 73-80 .- 400
Trong lý thuyết Ngữ pháp Chức năng Hệ thống (Systemic Functional Grammar - SFG), Đề ngữ (Theme), Chủ ngữ (Subject) và Tác nhân (Actor) là ba chức năng ngữ nghĩa khu biệt (nhưng không xuất hiện biệt lập, xuất hiện trong mối quan hệ với các chức năng khác từ cùng một nét nghĩa). Đề ngữ là điểm xuất phát của thông điệp, Chủ ngữ là sự bảo hành cho sự trao đổi thông tin còn Tác nhân như là người hoặc vật thực hiện hành động trong quá trình. Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, ba vai trò này có thể trùng khớp trong những câu trần thuật đơn giản nhưng thường tách biệt rõ ràng trong các cấu trúc bị động, đảo ngữ hoặc khi xuất hiện Đề ngữ phi chủ ngữ.
2 Ứng dụng ChatGPT nhằm cải thiện kĩ năng viết tiếng pháp thương mại tại trường đại học thương mại, hướng tới một mô hình tích hợp có kiểm soát / Nguyễn Thị Thùy Dương // .- 2023 .- Số 8 .- Tr. 31-39 .- 400
Bài viết này thực hiện tổng quan tài liệu về các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ứng dụng mô hình ngôn ngữ lớn ChatGPT trong giáo dục đại học một cách hệ thống ; phân tích vai trò của ChatGPT như một trợ lí viết lách thông qua việc rà soát 35 bài báo có mức độ liên quan cao nhất. Ngoài ra, tác giả đã thực hiện một khảo sát thực tế nhằm đánh giá hiệu quả của việc tích hợp ChatGPT trong học phần viết tiếng Pháp thương mại tại Đại học Thương mại. Dựa trên khung lí thuyết về quy trình viết của Hayes & Flower, các nghiên cứu về ChatGPT và khảo sát thực nghiệm, đề xuất mô hình tích hợp có kiểm soát, áp dụng ChatGPT vào giai đoạn lập dàn ý (tùy chọn) và chỉnh sửa trong quá trình giảng dạy viết tiếng Pháp thương mại; chỉ ra các lợi ích tiềm năng của ChatGPT như hỗ trợ ý tưởng và phản hồi ngôn ngữ; đồng thời đề xuất các giải pháp sư phạm nhằm hạn chế các rủi ro như đạo văn và lệ thuộc công nghệ.
3 Dịch khẩu hiệu quảng cáo Anh - Việt theo hướng tiếp cận chức năng - văn hoá / Vũ Thị Thanh // .- 2025 .- Số 8 .- Tr. 40-46 .- 400
Bài viết này khảo sát cách thức dịch sáng tạo góp phần bản địa hóa các khẩu hiệu quảng cáo tiếng Anh sang tiếng Việt, nhằm đồng bộ hóa bản sắc thương hiệu với sự hấp dẫn về mặt văn hoá. Dựa trên lý thuyết Skopos và các khái niệm thuộc ngữ dụng học văn hoá, nghiên cứu tiến hành phân tích 15 cặp khẩu hiệu quảng cáo, trong đó chọn ra phân tích sâu 7 trường hợp minh hoạ, và phỏng vấn 5 chuyên gia trong lĩnh vực dịch thuật và tiếp thị. Kết quả nghiên cứu chỉ ra 6 chiến lược chính: chuyển đổi từ vựng, tái cấu trúc cú pháp, điều chỉnh ẩn dụ, thay thế văn hoá, tái thiết cảm xúc và tương đương chức năng. Các chiến lược này có thể được vận dụng kết hợp nhằm duy trì hiệu lực thuyết phục và sự phù hợp văn hoá. Các chuyên gia được phỏng vấn nhấn mạnh vai trò của người dịch như những đồng tác giả sáng tạo, có nhiệm vụ dung hoà giữa giọng điệu thương hiệu, định hướng truyền thông và kỳ vọng của công chúng mục tiêu. Bài viết đề xuất mở rộng khái niệm năng lực dịch thuật theo hướng bao gồm cả sự sáng tạo, nhận thức văn hoá và tư duy chiến lược; đồng thời khuyến nghị tích hợp mô hình chuyển ngữ sáng tạo vào chương trình đào tạo biên dịch viên tại Việt Nam. Những phát hiện này có ý nghĩa thiết thực đối với lý thuyết và thực hành chuyên nghiệp trong lĩnh vực tiếp thị xuyên văn hoá.
4 Đặc trưng âm học của âm tiết tiếng Việt hướng đến xây dựng bảng đo thính lực lời / Vũ Thị Hải Hà // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 3-10 .- 400
Âm tiết tiếng Việt là sự kết hợp các yếu tố chiết đoạn: âm đầu, vần trong đó vần bao gồm âm đệm, nguyên âm, âm cuối và yếu tố siêu đoạn: thanh điệu. Âm sắc của âm tiết được quy định bởi âm sắc các yếu tố cấu tạo, trong đó âm sắc của nguyên âm chính, vốn có chức năng tạo đỉnh âm tiết có vai trò quyết định. Xem xét vùng tần số của âm tiết cần căn cứ vào vùng tần số của các yếu tố kết hợp trong âm tiết như thanh điệu, âm đầu, vần, vậy đâu là yếu tố quyết định nhất trong việc tạo âm sắc của âm tiết? Dưới đây chúng tôi lần lượt xem xét vai trò của thanh điệu, âm đầu và vần trong việc tạo âm sắc của âm tiết.
5 Nghiên cứu từ ghép tiếng Việt ở Trung Quốc và Việt Nam / Lưu Diễm Phân, La Văn Thanh // .- 2025 .- Số 10) .- .- 400
Từ ghép tiếng Việt chiếm phần lớn và có sức sản sinh mạnh trong cấu tạo từ tiếng Việt. Việc nghiên cứu từ ghép tiếng Việt là hết sức cần thiết. Kể từ cuối thế kỷ 20 đến nay, các học giả Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được thành quả nghiên cứu phong phú về từ ghép tiếng Việt. Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tiêu chí phân loại từ ghép, trật tự hình vị của từ ghép cũng như quan hệ nghĩa giữa hình vị và từ ghép. Bài viết này tổng kết thành quả nghiên cứu từ ghép tiếng Việt của học giả Trung Quốc và Việt Nam, nhằm xem xét từ ghép tiếng Việt một cách toàn diện hơn, và chỉ ra những hướng mới cho nghiên cứu từ ghép tiếng Việt trong tương lai
6 Trường từ vựng ẩm thực trong tiếng Việt / Phạm Anh Tú // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 28-39 .- 400
Bài viết được thực hiện với mục đích hệ thống hóa và phân loại trường từ vựng ẩm thực trong tiếng Việt nhằm không chỉ góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa mà còn phục vụ hiệu quả cho công tác giảng dạy, biên soạn từ điển, dịch thuật và nghiên cứu liên ngành. Thông qua việc phân tích năm tiểu trường: nguyên liệu, hoạt động và phương thức chế biến, món ăn - đồ uống, thưởng thức, vật dụng ẩm thực liên quan, ta thấy rõ tính hệ thống và tính liên kết ngữ nghĩa bên trong trường từ vựng này.
7 Lịch sử nghiên cứu ngữ điệu tiếng Việt / Phạm Thị Thu Hà // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 40-50 .- 400
Trong lĩnh vực ngữ âm và âm vị học tiếng Việt, ngữ điệu là yếu tố nhận được ít sự quan tâm nhất cho đến thời gian gần đây. Trước năm 1954, mặc dù đã có một số công trình đề cập đến ngữ điệu tiếng Việt, nhưng khái niệm “ngữ điệu” khi đó chưa tương đồng với cách hiểu hiện nay, vốn phân biệt rõ với thanh điệu từ vựng. Sau năm 1954, các nhà ngôn ngữ học bắt đầu nghiên cứu ngữ điệu tiếng Việt từ cả hai góc độ thực nghiệm và công cụ. Từ đó, ngữ điệu tiếng Việt được mô tả dựa trên cả đặc trưng ngữ âm và phương diện chức năng. Bài viết này tổng quan các nghiên cứu về ngữ điệu tiếng Việt trong khoảng bảy thập kỷ qua, đồng thời nỗ lực lý giải vì sao đến nay vẫn chưa thể xây dựng được một mô hình lý thuyết âm vị học cho ngữ điệu tiếng Việt.
8 Ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ đánh giá vào phân tích ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết For whom the bell tolls của Ernest Hemingway / Hàn Thị Bích Ngọc // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 72-80 .- 400
Tập trung vào phân tích thái độ của nhân vật thể hiện trong đối thoại thông qua hệ thống “Thái độ” của lí thuyết Ngôn ngữ đánh giá do Martin & White (2005) đề xuất. Mô hình này sẽ được áp dụng để phân tích ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết For whom the bell tolls (Chuông nguyện hồn ai), một tác phẩm nổi tiếng về đề tài chiến tranh của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway.
9 Sự tri nhận và biểu đạt không gian, thời gian trong tiếng Việt: Nghiên cứu trường hợp từ qua / Lê Thị Cẩm Vân // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 48-57 .- 400
Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp, quy chiếu và phối cảnh không gian của từ “qua” trong tiếng Việt, trên cơ sở đó phân tích sự chuyển di sang thời gian của từ này. Kết quả phân tích cho thấy có sự chuyển khung từ không gian sang thời gian với từ “qua” trong tiếng Việt, bao gồm trong đó sự đồ chiếu cấu trúc nghĩa biểu hiện, phối cảnh chuyển động. Mặt khác, sự chuyển khung cũng đem đến cho “qua” những khác biệt trong biểu đạt ngữ nghĩa và tri nhận thời gian so với phạm trù không gian.
10 Đặc điểm ngữ pháp điển hình của câu tồn tại tiếng Việt / Nguyễn Thị Mai Anh // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 32-39 .- 400
Bài viết này đi sâu nghiên cứu câu tồn tại trên bình diện kết học, đóng góp cơ sở cho việc nghiên cứu câu trên phương diện nghĩa học và dụng học.