Nghiên cứu này trình bày hai phương thức chính mà khách hàng đã sử dụng để gọi tên dược phẩm ở các nhà thuốc tại Việt Nam là: (1) Gọi tên theo hình thức (hình dáng và cách phiên âm); (2) Gọi tên theo nội dung (công dụng, xuất xứ). Nguồn ngữ liệu được thu thập ngẫu nhiên từ 100 nhà thuốc ở miền Nam Việt Nam và từ các trang thông tin về ngành Dược trên Internet.
Bài viết này tập trung tìm hiểu về ý niệm màu xanh thông qua khảo sát trong thơ của các nhà thơ nữ là Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngân Giang. Kết quả khảo sát cho thấy có một ẩn dụ ý niệm tiêu biểu nhất là tuổi trẻ là màu xanh. Các nhà thơ nữ đã tri nhận về tuổi trẻ thông qua màu xanh ở trên hai phương diện là thời gian tuổi trẻ và tình yêu của tuổi trẻ. Sự tri nhận này rất điển hình cho cách tư duy của phụ nữ bởi vì những điều mà phụ nữ quan tâm nhất thường là tuổi trẻ và tình yêu.
Bài viết khảo sát cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho phong cách khẩu ngữ tự nhiên trong Tuyển tập Nam Cao nhằm làm rõ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của tác giả. Bài viết đề cập cách sử dụng hai loại phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho phong cách khẩu ngữ tự nhiên trong Tuyển tập Nam Cao: cách sử dụng các từ ngữ (từ xưng hô, vị từ, phó từ, trợ từ, các từ được tạo ra từ sự biến đổi ngữ âm của từ đa phong cách, quán ngữ, thành ngữ) và cách sử dụng các kiểu câu lặp thành phần (câu lặp chủ ngữ, câu lặp vị ngữ, câu lặp bổ ngữ), những câu mở đầu bằng hư từ (mà, thì), câu mở đầu bằng từ ấy.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích - tổng hợp nhằm mô tả, phân loại và hệ thống các từ ngữ thân tộc tiếng Việt dựa trên cấu trúc phân cấp ý niệm và các mối quan hệ ngữ nghĩa như đồng nghĩa, đa nghĩa, thượng danh và hạ danh. Kết quả nghiên cứu mở ra tiềm năng ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, xử lí ngữ nghĩa tự động và nghiên cứu ngữ nghĩa học so sánh.
Tự thân hành động ngôn từ nhờ vả có thể gây tổn thương thể diện của đối phương nên việc sử dụng hành động ngôn từ này của người bản ngữ cũng là cả một vấn đề. Nó đòi hỏi người nói cần phải sử dụng các chiến lược khác nhau để giảm thiểu đe dọa thể diện của đối tượng giao tiếp. Trong nghiên cứu này, chúng tôi cách biểu đạt tính lịch sự trong HĐNT nhờ vả vả bằng tiếng Hàn của người học Việt Nam học tiếng Hàn.
Trên cơ sở nguồn ngữ liệu có quy mô khoảng 460.000 chữ, bài viết sử dụng phương pháp định lượng, thống kê, phân tích kết cấu ngữ nghĩa của phương vị từ 上 trong tiếng Trung Quốc. Kết quả cho thấy, phương vị từ 上 thường sử dụng với nghĩa không gian, ít sử dụng với nghĩa phi không gian. Trong nghĩa không gian, phương vị từ 上 thường sử dụng với vật mốc là loại không gian mặt. Trong nghĩa phi không gian, phương vị từ 上 thường sử dụng để ẩn dụ về phương diện góc độ.
Nghiên cứu này cho rằng, việc giảng dạy các biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng nên được thực hiện trong thực tế tại các cơ sở giáo dục, nhằm nâng cao năng lực ngữ pháp và khả năng tiếng Hàn của người học. Dựa trên phân tích về hình thức và chức năng của các biểu hiện bị động đã được đề cập trước đó, cũng như nội dung kiểm tra giáo trình tiếng Hàn, người viết đề xuất các phương án bổ sung nội dung biểu hiện bị động trong giáo trình tiếng Hàn.
Nghiên cứu này dựa trên các nghiên cứu tiên quyết cho thấy rằng, những ai học ngoại ngữ có nhạy cảm với văn hóa nước ngoài thì sẽ nhanh chóng thích ứng với đặc điểm văn hóa đó. Sự nhạy cảm liên văn hóa chỉ ra khả năng phản ứng nhạy cảm với văn hóa khác và có thể hành xử một cách thích hợp. Bài viết tìm hiểu tính nhạy cảm văn hóa của người Việt học tiếng Hàn và đưa ra một số giải pháp để nâng cao tính nhạy cảm văn hóa của người Việt học tiếng Hàn.
Nghiên cứu biện pháp tu từ nghịch ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử trên phương diện cấu tạo và giá trị. Nghịch ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử có ba kiểu cấu tạo là: cặp từ, cặp cụm từ và mệnh đề. Nhà thơ sử dụng nghịch ngữ để biểu đạt những mâu thuẫn, nghịch lí của cuộc sống con người, đồng thời thể hiện những suy tư cá nhân về cuộc đời và bản thể. Nghịch ngữ thể hiện một chân dung Hàn Mặc Tử với tâm hồn yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, là người có khát vọng sống mãnh liệt.
Câu trúc chủ - vị trong tiếng Khmer là một đề tài tương đối mới trong việc nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam. Cấu trúc chủ - vị gồm hai thành phần: chủ ngữ và vị ngữ. Chúng là hai thành phần chính tạo nên nòng cốt câu và hình thành nhiều loại câu khác nhau xét theo câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp như câu đơn, câu ghép và câu phức. Câu tiếng Khmer có nhiều loại câu khác nhau nhưng giữa các câu có điểm chung là được tạo nên từ cụm chủ - vị. Điều đáng chú ý là, cấu trúc chủ - vị trong tiếng Khmer có những điểm tương đồng với cấu trúc chủ - vị trong tiếng Việt.