Xạ trị phối hợp hít sâu nín thở (DIBH) đã được chứng minh giúp giảm liều xạ lên tim hiệu quả mà vẫn đảm bảo liều vào thể tích đích, từ đó giảm được tác dụng phụ tim mạch đối với bệnh nhân ung thư vú trái. Hệ thống quang học theo dõi bề mặt (OSMS) cho phép thực hiện xạ trị DIBH với nhiều ưu điểm và độ chính xác cao. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của xạ trị DIBH bằng hệ thống OSMS về liều trên các thể tích đích và tim; đánh giá thời gian xạ trị và sai số đặt bệnh xạ trị DIBH bằng hệ thống OSMS. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu thực hiện từ tháng 11/2023 - 8/2024. Mười tám bệnh nhân ung thư vú trái xạ trị DIBH sử dụng phần mềm AlignRT phiên bản 5.1 trên máy TrueBeam tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Tất cả bệnh nhân được xạ trị bổ túc với liều xạ 42,56Gy/16 phân liều, có hoặc không xạ tăng cường nền bướu 10Gy/4 lần, bằng kĩ thuật 3D tiêu chuẩn (3D-CRT). Kết quả nghiên cứu: Kế hoạch xạ trị phối hợp DIBH đạt liều vào thể tích đích thành ngực/ tuyến vú và hạch vùng với V95% lần lượt là 95,2% và 98,0%; liều trung bình trên tim là 2,4Gy và liều trung bình động mạch gian thất trước (LAD) là 16,8Gy. Trung vị thời gian xạ trị DIBH bằng hệ thống OSMS là 6,0 phút (2,1 - 19,5 phút). Trung vị sai số đặt bệnh xạ trị DIBH bằng OSMS là 1 - 2mm cho các chiều thẳng; 0,6 - 0,8o cho các chiều xoay. Kết luận: Xạ trị phối hợp hít sâu nín thở (DIBH) có sự hỗ trợ của OSMS trên ung thư vú trái giúp giảm liều tim; đặt bệnh xạ trị nhanh và chính xác; giảm thời gian xạ trị.
I-131 là một trong ba phương pháp điều trị hiệu quả bệnh Basedow (nội khoa, phẫu thuật, I- 131). Để đánh giá hiệu quả điều trị bệnh Basedow bằng I-131, chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 39 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Basedow từ tháng 01/2022 đến tháng 8/2024 tại khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng với hai mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh Basedow bằng I-131 và xác định một số yếu tố liên quan tới kết quả điều trị. Kết quả: Liều điều trị I-131 trung bình là 9,08 ± 1,55mCi. Hiệu quả điều trị đạt được ở 29/39 bệnh nhân (74,4%) với 18 bệnh nhân suy giáp (46,2%) và 11 bệnh nhân bình giáp (28,2%), có 10/39 bệnh nhân (25,6%) vẫn còn cường giáp. Các yếu tố có liên quan tới kết quả điều trị bao gồm thể tích tuyến giáp và liều điều trị I-131. Kết luận: Hiệu quả điều trị bệnh Basedow cao nhất khi dùng liều 10mCi (370mBq) có ý nghĩa về mặt thống kê. Nghiên cứu cho thấy với những trường hợp thể tích tuyến giáp trên 30ml mang lại hiệu quả kém hơn, trong khi tuổi bệnh nhân không có mối liên quan tới hiệu quả điều trị.
rị triệt để hoặc hóa xạ trị đồng thời với Cisplatin. - Đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng hạ natri máu trong điều trị BN ung thư đầu cổ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng: Bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ được chỉ định xạ triệt để hoặc hóa xạ đồng thời triệt để, đang điều trị tại Khoa Xạ trị đầu cổ, tai mũi họng, hàm mặt, Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh (Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM). Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2024 đến hết 01/09/2024. Địa điểm: Khoa Xạ trị đầu cổ, tai mũi họng, hàm mặt, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu. Kết quả: Nghiên cứu đã thu nhận 229 bệnh nhân mắc các loại ung thư vùng đầu và cổ, với độ tuổi trung bình 56. Trong đó, 76% là nam và 24% là nữ. Tỷ lệ bệnh nhân bị hạ natri máu trong quá trình điều trị tăng dần từ tuần 1 (3,5%) đến tuần 7 (33,2%). Hạ natri máu ở mức độ nhẹ chiếm phần lớn, trong khi hạ natri máu độ 3 (nặng) chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng có liên quan đến các triệu chứng nghiêm trọng về thần kinh như co giật và yếu cơ. Các yếu tố như ung thư vòm hầu, hạ hầu, thanh quản và việc sử dụng Cisplatin có liên quan chặt chẽ đến tình trạng hạ natri máu. Ung thư khẩu hầu, hốc miệng, vòm hầu và hạ hầu - thanh quản có tỷ lệ hạ natri máu lần lượt là 27%, 21%, 18% và 11.7%. Có 44,2% bệnh nhân phải nhập viện do hạ natri máu, trong đó hạ natri máu độ 1, độ 2, độ 3 có tỷ lệ lần lượt là:9,1%; 2,2%; 5,2%. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hạ natri máu ở bệnh nhân điều trị ung thư đầu cổ là đáng kể, đặc biệt là ở những tuần điều trị sau và ở các bệnh nhân điều trị bằng Cisplatin. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi nồng độ natri trong suốt quá trình điều trị để phát hiện sớm và can thiệp kịp thời sẽ giúp giảm thiểu các biến chứng liên quan và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.
Phân lập và xác định cấu trúc hóa học của các flavonoid từ thân rễ xạ can; Sơ bộ khảo sát hoạt tính gây độc tế bào của dịch chiết toàn phần thân rễ xạ can và các hợp chất flavonoid phân lập được trên dòng tế bào ung thư phổi A549.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tách phân đoạn dịch chiết quả sim (Rhodomyrtus tomentosa) và định lượng hàm lượng polyphenol toàn phần, đánh giá khả năng chống oxy hoá, kháng khuẩn, kháng nấm của các phân đoạn dịch chiết thu được.
Nghiên cứu này nhằm phát triển sản phẩm gia vị rắc cơm kết hợp nấm rơm và chùm ngây, hướng tới một sản phẩm vừa ngon miệng vừa bổ dưỡng. Kết quả khảo sát nguyên liệu cho thấy nấm rơm và chùm ngây có thành phần dinh dưỡng phù hợp để chế biến gia vị rắc cơm. Nhiệt độ và thời gian sấy lần 1 tối ưu cho nấm rơm là 60°C trong 6,5 giờ, và cho chùm ngây là 50°C trong 140 phút. Công thức phối trộn tối ưu là nấm rơm: vừng: chùm ngây = 1: 0,1: 0,3 và hỗn hợp nấm rơm-vừng-chùm ngây: đường: muối = 1: 0,25: 0,25. Điều kiện sấy tối ưu lần 2 của sản phẩm sau khi phối trộn là 50°C trong 60 phút.
Khảo sát toàn diện khả năng hấp phụ của vật liệu vỏ tràm biến tính đối với CIP, xác định các yếu tố ảnh hưởng (pH, nồng độ ban đầu, liều lượng, thời gian tiếp xúc), và đánh giá tiềm năng ứng dụng thực tế của vật liệu này trong việc xử lý ô nhiễm kháng sinh trong nước.
Trình bày các công cụ y học chính xác được xây dựng theo "omics" kết hợp AI, Big Data, bao gồm genomics, transcriptomics, epigenomics, proteomics, metabolomics và microbiomics, nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện về hiện trạng, ứng dụng lâm sàng và các xu hướng mới nổi của PM trong điều trị bệnh lý tim mạch. Đồng thời, phân tích những rào cản chính trong quá trình triển khai và đề xuất các định hướng chiến lược để tích hợp PM vào hệ thống y tế lâm sàng và y tế công cộng, với trọng tâm tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.
Phân tích sinh lý bệnh của giãn thất trái trong VA-ECMO, các phương pháp theo dõi và phát hiện, cũng như các chiến lược giảm tải thất trái, làm nổi bật cả phương pháp giảm tải thụ động và chủ động. Mặc dù có bằng chứng ủng hộ nhiều kỹ thuật giảm tải khác nhau, nhưng lựa chọn tối ưu cần được cá thể hóa.
Tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ gây bệnh thận mãn tính nhưng đồng thời nó cũng là yếu tố nguy cơ gây tử vong,
bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim mạn tính và phì đại tâm thất trái. Ghép thận được coi là phương pháp điều trị lựa chọn
cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối. Tuy nhiên, nguy cơ tim mạch còn lại vẫn cao hơn đáng kể ở những người
nhận thận ghép so với dân số nói chung. Bệnh nhân ghép thận là một nhóm bệnh nhân có nguy cơ rất cao mắc bệnh tim
mạch, đây được xác định là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở những bệnh nhân này.