Lymphôm Hodgkin (HL) là một khối u tân sinh có nguồn gốc từ tế bào B của trung tâm mầm, đặc trưng bởi sự hiện diện của các tế bào Hodgkin và Reed-Sternberg (HRS) với tỷ lệ thấp (0,1-10%) xen lẫn trong nền giàu tế bào miễn dịch phản ứng. Trong lymphôm, môi trường vi mô tế bào không phải u xung quanh các tế bào HRS ngày càng được công nhận là một yếu tố quan trọng trong sinh học và sự tiến triển của HL, cũng như trong tiên lượng và đáp ứng với điều trị. Nó thay đổi theo phân loại mô học và trạng thái liên quan EBV. Các tế bào lymphô nền trong hầu hết các trường hợp là tế bào T kèm theo số lượng bạch cầu ái toan, mô bào, bạch cầu trung tính và tương bào khác nhau. U hạt dạng biểu mô có thể khu trú hoặc đôi khi chiếm ưu thế. Trong một số trường hợp, phản ứng này có thể lan tỏa, khiến các tế bào u bị che khuất, đặc biệt khi mật độ tế bào khối u thấp. Điều này dễ dẫn đến nhầm lẫn với tổn thương lành tính trong các kết quả tế bào học. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 26 tuổi đến khám với tình trạng nổi hạch cổ. Hình ảnh học gợi ý lymphôm, và chọc hút bằng tế bào bằng kim nhỏ cho thấy có các tế bào dạng biểu mô chiếm ưu thế và rải rác các tế bào Hodgkin và Reed-Sternberg. Sinh thiết trọn hạch xác nhận chẩn đoán HL với phản ứng u hạt. Hóa mô miễn dịch cho thấy các tế bào u dương tính mạnh với CD30 và biểu hiện PAX5 yếu, khẳng định chẩn đoán.
U sợi sinh xương thể thanh xuân dạng thể cát (JPOF) là một loại u lành tính nhưng hiếm gặp, với đặc điểm phát triển nhanh và tỷ lệ tái phát cao, đặc biệt ở vị trí xương sọ mặt. Chúng tôi báo cáo trường hợp một bệnh nhân nữ, 19 tuổi, với khối u tái phát hai lần tại vùng xương trán, xâm lấn vào xoang cạnh mũi. Bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ khối u. Chẩn đoán JPOF cần dựa trên tam giác chẩn đoán bao gồm lâm sàng, hình ảnh học và giải phẫu bệnh. Đặc điểm mô bệnh học đặc trưng của khối u là sự tăng sinh của các cầu xương giống thể cát trên nền mô đệm sợi. Các lựa chọn điều trị hàng đầu bao gồm cắt bỏ toàn phần hoặc một phần khối u, tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân. Việc chẩn đoán và điều trị JPOF đòi hỏi sự phối hợp đa ngành và theo dõi chặt chẽ, do nguy cơ tái phát cao ngay cả sau phẫu thuật toàn bộ.
Khảo sát nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất tại khoa Ung Bướu Bệnh viện Đà Nẵng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 người bệnh ung thư đang điều trị nội trú sử dụng hóa chất gây độc tế bào tại Khoa Ung Bướu – Bệnh viện Đà Nẵng từ tháng 02/2023 đến tháng 8/2023. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 58,5 ± 10,3, tỷ lệ nam/nữ là 1,38. Có đến 68,7% người bệnh sức khỏe còn khá tốt (với chỉ số hoạt động Karnofsky 80 - 100 điểm). Chiếm đa số là giai đoạn IV (di căn và tái phát) (58,7%). Ph ần lớn điều trị hóa chất đường tiêm truyền chiếm tỷ lệ 84,7%. Hầu hết người bệnh có vấn đề sức khỏe (93,3%) và 78,7% có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ. Điểm trung bình vấn đề sức khỏe chung là 54 ± 16,1, lớn hơn điểm trung bình nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ chung là 46,3 ± 17,2 và có mối tương quan thuận chặt chẽ với hệ số tương quan r là 0,907, có ý nghĩa thống kê. Những yếu tố liên quan ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến vấn đề sức khỏe và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ chung của người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất là giới tính, đặc điểm tài chính, tình trạng lao động, nhóm chỉ số Karnofsky, đường dùng thuốc. Kết luận: Hầu hết người bệnh tham gia nghiên cứu đều có vấn đề sức khỏe (93,3%) và phần lớn đều có nhu cầu cần nhân viên y tế quan tâm chăm sóc giảm nhẹ (78,7%). Việc đánh giá các vấn đề sức khỏe và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư (có tương quan thuận chặt chẽ có ý nghĩa với hệ số r là 0,907) sẽ giúp nhóm chăm sóc đưa ra các can thiệp và quản lý các vấn đề cũng như đáp ứng những nhu cầu cụ thể của người bệnh qua đó cung cấp dịch vụ chăm sóc toàn diện và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
Mô tả một số đặc điểm chung của bệnh nhân ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An và đánh giá giá trị của chỉ số tiên lượng giảm nhẹ (PPI) trong dự đoán thời gian sống thêm ở nhóm đối tượng nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang theo dõi tiến cứu trên 136 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2024 tại Khoa Điều trị Giảm nhẹ - Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An. Công cụ sử dụng là chỉ số tiên lượng giảm nhẹ PPI. Kết quả: Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 63,7 (25 - 95), tỉ lệ nam/nữ: 3,12/1. Ung thư phổi chiếm tỉ lệ cao nhất 30,1%. Phần lớn bệnh nhân mắc ung thư giai đoạn 4 (79,4%). 77,9% bệnh nhân đã tử vong. Trung vị thời gian sống thêm ở nhóm PPI ≤ 4 là 92 ngày, nhóm 4 < PPI ≤ 6 là 50 ngày và nhóm PPI > 6 là 21 ngày. 55,8% và 86,5% bệnh nhân có chỉ số PPI > 6 tử vong trong 3 tuần và 6 tuần. Tương ứng ở nhóm PPI ≤ 4 là 24,1% và 37,9%. PPI > 6 tiên lượng thời gian sống thêm dưới 3 tuần với giá trị tiên lượng dương tính (PPV) là 69% và giá trị tiên lượng âm tính (NPV) là 64% với độ nhạy 56%, độ đặc hiệu 76%. PPI > 4 tiên lượng khả năng sống sót dưới 6 tuần với PPV là 74% và NPV là 62% với độ nhạy 84%, độ đặc hiệu 53%. PPI < 5,5 dự đoán tốt nhất về khả năng sống sót sau 6 tuần với độ nhạy 75,0% và độ đặc hiệu 76,3% với AUC = 0,759. PPI ≥ 6,25 dự đoán tốt nhất về khả năng tử vong trong 3 tuần với độ nhạy 69,0% và độ đặc hiệu 64,1% với AUC = 0,667. Kết luận: Chỉ số tiên lượng giảm nhẹ (PPI) có giá trị trong việc dự đoán thời gian sống thêm của bệnh nhân ung thư được điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần và có thể được sử dụng để hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong việc tư vấn chăm sóc giảm nhẹ.
Bệnh nhân ung thư cần cung cấp đủ dinh dưỡng để tham gia quá trình điều trị. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng cũng như khẩu phần ăn của người bệnh ung thư vòm mũi họng đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Cần Thơ năm 2024. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang được tiến hành trên 50 người bệnh ung thư vòm mũi họng. Kết quả có 48% người bệnh ung thư vòm mũi họng có nguy cơ suy dinh dưỡng theo PG-SGA và 22% theo BMI, năng lượng trung bình trong khẩu phần ăn hằng ngày là 1246,3 ± 452,7 kcal/ngày. Nghiên cứu tìm thấy khác biệt trung bình giữa ở những người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng theo PG-SGA với năng lượng và hàm lượng glucid trung bình trong khẩu phần ăn hằng ngày. Kết luận: Bệnh nhân ung thư vòm mũi họng có tỷ lệ suy dinh dưỡng đang ở mức cao, năng lượng khẩu phần ăn hằng ngày còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu, có sự khác biệt về năng lượng là hàm lượng glucid trung bình ở các phân nhóm suy dinh dưỡng theo PG-SGA. Vì vậy, cần phải can thiệp dinh dưỡng sớm để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh có thể hoàn thành liệu trình điều trị không bị trì hoãn kéo dài thời gian nằm viện.
Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành dựa vào bằng chứng trong chăm sóc của điều dưỡng Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 194 Điều dưỡng viên đang công tác tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/2022 đến 5/2022. Sử dụng bộ câu hỏi để thu thập số liệu. Thống kê mô tả và thông kê phân tích: T -test, ANOVA, Pearson, Spearman. Kết quả: Điểm kiến thức của điều dưỡng về THDVBC là 5,12 (± 0,95), kế đến là THDVBC (4,90 ± 0,99) và thái độ (4,80 ± 0,95). Có mối tương quan giữa THDVBC với văn bằng chuyên môn cao nhất (rho = 0,14, p = 0,03) và kiến thức (r = 0,64, p < 0,05) và thái độ (r = 0,43, p < 0,05). Không có sự khác biệt giữa THDVBC với tuổi, giới tính, kinh nghiệm trong công việc, tình trạng hôn nhân (p > 0,05). Kết luận: Kiến thức, thái độ và thực hành dựa vào bằng chứng của Điều dưỡng tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh ở mức tích cực. Các nhà quản lý bệnh viện nên tạo môi trường hỗ trợ và hướng dẫn một cách có hệ thống các chiến lược thực hành cho các điều dưỡng, bằng cách mở các khoa tập huấn cho điều dưỡng về THDVBC và đánh giá lại khóa tập huấn.
Viêm tĩnh mạch do hóa trị (CIP) là một tác dụng không mong muốn của hóa trị. Dự phòng nhằm giảm viêm tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư sau hóa trị là rất quan trọng. Mục đích: Đánh giá tác dụng của việc dùng miếng gel lạnh dự phòng CIP do hóa trị ở bệnh nhân ung thư. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trên 60 bệnh nhân được chia thành 2 nhóm có và không dùng gel lạnh trong khi truyền hóa chất. Kết quả: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ viêm tĩnh mạch do hóa trị (p < 0,01). Kết luận: Sử dụng miếng gel lạnh có tác dụng phòng ngừa viêm tĩnh mạch do hóa trị.
Đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp tâm lý của người bệnh nữ ung thư sinh dục theo thang đo EORTC-QLQ30 tại Bệnh viện K Trung ương năm 2020 - 2021. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp hỗ trợ tâm lý trên 350 bệnh nhân nữ ung thư sinh dục tham gia nghiên cứu ít nhất 06 tháng từ 3/2021 - 12/2021, sử dụng thang đo EORTCQLQ30 để đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp. Kết quả: Điểm trung bình CLCS tăng từ 60,8 ± 18,4 trước can thiệp lên 72,7 ± 16,5 sau can thiệp (p < 0,05); chỉ số chức năng “Hoạt động” (trước can thiệp: 69 ± 26,3; sau can thiệp: 81 ± 21), và chỉ số “Triệu chứng” (trước can thiệp: 23,4 ± 21; sau can thiệp: 18,2 ± 17,7) được cải thiện rõ ràng nhất. Giai đoạn bệnh và chẩn đoán bệnh có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Kết luận: Hiệu quả của can thiệp hỗ trợ tâm lý cải thiện CLCS trên bệnh nhân ung thư sinh dục là cơ sở để triển khai các hoạt động can thiệp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và tâm lý cho bệnh nhân.
Khảo sát các nhu cầu chăm sóc và khả năng tự chăm sóc hậu môn nhân tạo ở người bệnh ung thư đại trực tràng. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 84 người bệnh ung thư đại trực tràng có hậu môn nhân tạo. Kết quả: Nhu cầu chăm sóc của NB cao với 82,1%, trong đó cao nhất là chăm sóc thể chất 95,2%, tiếp theo là cung cấp thông tin 80,9% và chăm sóc tâm lý là 71,4%. Khả năng tự chăm sóc của người bệnh đạt mức trung bình, với tỷ lệ 52,4%. Người bệnh có trình độ học vấn dưới cấp 2 có nhu cầu chăm sóc cao hơn so với nhóm còn lại (p < 0.05). Kết luận: Các nhu cầu của người bệnh ung thư rất cao và khả năng tự chăm sóc hậu môn nhân tạo chưa đạt ở mức cao do đó cần chú trọng đáp ứng các nhu cầu cho người bệnh và tăng cường giáo dục, hướng dẫn về cách tự chăm sóc và quản lý hậu môn nhân tạo cho người bệnh.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá biến chứng phẫu thuật, kết quả thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tuyến giáp được phẫu thuật nội soi qua ngã tiền đình miệng (TOETVA). Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiền cứu 50 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa được phẫu thuật cắt thùy giáp tháng 10/2023 đến tháng 9/2024 tại Khoa Điều trị tổng hợp, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng bảng câu hỏi SF-36 tại thời điểm 1, 2 và 3 tháng sau mổ. Kết quả: Tất cả đều là bệnh nhân nữ với độ tuổi trung bình là 29,7 ± 8,5. Chỉ có 3 bệnh nhân (6%) bị khàn tiếng và 1 bệnh nhân (2%) tê bì cằm môi dưới tạm thời. Mức độ thẩm mỹ và hài lòng của bệnh nhân tại thời điểm 1 tháng lần lượt là 4,7 và 4,8/5 điểm. Các lĩnh vực về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đều cải thiện đáng kể qua thời gian. Sức khỏe tinh thần là yếu tố bị ảnh hưởng nhiều nhất. Kết luận: Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường miệng rất ít biến chứng, thẩm mỹ cao và chất lượng cuộc sống tốt. Đây là một lựa chọn điều trị tốt cho bệnh nhân cắt thùy giáp, đặc biệt là phụ nữ trẻ.