Ẩn dụ ý niệm là một khái niệm phổ biến trong ngôn ngữ học, trong đó một khái niệm trừu tượng được hiểu thông qua một khái niệm cụ thể hơn. Trong tiếng Nhật, các thành ngữ có từ chỉ “目, め” (mắt) thường mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ, giúp làm sáng tỏ những khía cạnh khác nhau của văn hóa và tâm lí học người Nhật. Bài viết này góp phần làm sáng tỏ hơn những tư duy và văn hóa của người Nhật được thể hiện trong thành ngữ có từ chỉ “目, め” (mắt), giúp người học tiếng Nhật hiểu rõ hơn về cách ngôn ngữ này sử dụng các ẩn dụ ý niệm để biểu đạt những cảm xúc và ý tưởng phức tạp. Đồng thời, bài viết cũng chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong biểu thị ý nghĩa và biểu tượng giữa tiếng Việt và tiếng Nhật.
Giới thiệu về cách tiếp cận một số mô hình ngữ âm tiếng Anh tại môi trường giáp ranh giữa các từ trong chuỗi lời nói thông qua việc đối chiếu với mô hình ngữ âm tiếng Việt, ở chừng mực nào đó, bài báo có thể góp phần bổ sung phong phú nhận thức về lí thuyết ngôn ngữ nói chung và ngữ âm - âm vị của hai ngôn ngữ nói riêng.
Dịch là một kĩ năng tổng hợp. Để chuyển dịch tốt, ngoài việc phải có kiến thức vững vàng về hai ngôn ngữ, ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, các biên, phiên dịch viên cần phải hiểu biết sâu rộng hai nền văn hóa của hai dân tộc và phải nắm bắt và khai thác hợp lí các phép tu từ trong quá trình chuyển dịch. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến các phép tu từ thường gặp và cần phải khai thác một cách hợp lí trong quá trình dạy dịch.
Phân tích tầm quan trọng của Bước "Khởi Động" trong giảng dạy ngoại ngữ, đồng thời cung cấp một số gợi ý để xây dựng các hoạt động khởi động hiệu quả, giúp giáo viên thu hút và truyền cảm hứng cho học sinh ngay từ những phút đầu tiên của buổi học.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào các công thức biểu đạt hành vi lời nói từ chối lời mời gián tiếp của người Mỹ thu được trong 291 đoạn hội thoại từ chối gián tiếp trong tổng số 720 đoạn hội thoại từ chối mà tác giả thu thập được từ 35 tác phẩm văn học Mỹ và một số bộ phim Mỹ phát sóng trên truyền hình Việt Nam. Bài viết mong muốn giúp người đọc hiểu hơn về phương tiện biểu đạt hành vi từ chối gián tiếp lời mời có trong các chiến lược từ chối gián tiếp được người Mỹ ưa sử dụng, từ đó giúp cho người học tiếng Anh nâng cao hiệu quả trong quá trình giao tiếp, tránh những xung đột, những “cú sốc văn hóa”.
Bài viết này sẽ sử dụng phương pháp phân tích thành tố để phân tích nghĩa được sử dụng hiện nay trong tiếng Việt của các động từ đã nêu dựa theo cấu trúc tham tố nghĩa của chúng. Có thể nêu cấu trúc tham tố chung ở dạng đầy đủ của nghĩa các động từ động viên, khích lệ, cổ động, cổ vũ như sau: “chủ thể (X)/ Thúc đẩy/ trạng thái tâm lí - tinh thần (T)/ của đối tượng (Y)/ bằng phương tiện (P)/ trong hoạt động (H)”.
Lí thuyết pha trộn ý niệm làm sáng tỏ sự hình thành ý nghĩa và tích hợp thông tin của Fauconnier và cộng sự là một bước phát triển mới của ngôn ngữ học tri nhận. Bài viết trình bày ngắn gọn nguyên nhân, mục đích hình thành thuyết pha trộn ý niệm, phân tích một số ví dụ điển hình để thấy được tính năng động trong hình thành ý nghĩa, tính vô biên của không gian tinh thần, mối quan hệ giữa ánh xạ ý niệm và hoạt động sản sinh ý nghĩa dưới góc nhìn của thuyết này.
Trên cơ sở sử dụng phương pháp hệ thống hoá, bài viết này hướng tới giới thiệu với bạn đọc về quá trình hình thành, phát triển chuyên sâu về mặt lí thuyết và phương pháp cũng như những thành tựu của Ngữ pháp kết cấu như một cách tiếp cận ngôn ngữ trong ba thập kỉ qua với sự cống hiến của những nhà ngôn ngữ như Fillmore, Kay, Langacker, Lakoff, Goldberg, Croft…Nội dung của bài viết còn nhằm giới thiệu nhiều chủ đề trọng tâm hiện đang được giải quyết trong Ngữ pháp kết cấu và bàn về cách lĩnh vực này hiện đang mở rộng và tạo mối liên hệ với các lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ khác.
Tỉnh lược là một hình thức của phép thế, thế bằng zêrô. Trong phép tỉnh lược và phép thế, cái được chú ý là yếu tố bị tỉnh lược và thay thế. Những yếu tố này có thể là: danh từ (cụm danh từ), động từ, tính từ (cụm động từ/ cụm tính từ), mệnh đề (cấu trúc chủ - vị, hay cú). Trong các diễn ngôn của cuốn Hồ Chí Minh “Về vấn đề giáo dục”, có thể nhận thấy, phép tỉnh lược và phép thế thường được sử dụng để liên kết câu. Các yếu tố bị tỉnh lược hoặc thay thế đều giữ chức vụ ngữ pháp trong câu. Chúng có thể là chủ ngữ, vị ngữ hoặc trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ. Bên cạnh tác dụng liên kết, việc sử dụng phép tỉnh lược và phép thế còn là một dụng ý nghệ thuật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ phép tỉnh lược và phép thế mà các diễn ngôn của Người trở nên ngắn gọn, cô đúc, không rườm rà, tránh được lỗi lặp từ ngữ.
Nghiên cứu về vai trò của các yếu tố hư từ trong các biểu thức danh hoá thuộc ẩn dụ ngữ pháp của loại hình ngôn ngữ đơn lập cụ thể qua trường hợp của tiếng Việt - ngôn ngữ không biến đổi hình thái, với nguồn ngữ liệu nghiên cứu là truyện đồng thoại thiếu nhi Việt Nam qua hai tác giả tiêu biểu là Tô Hoài và Võ Quảng.