Bước đầu đánh giá hiệu quả của liệu pháp dùng khối tế bào đơn nhân tủy xương ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não. Đối tượng và phương pháp: 92 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não từ 7 - 30 ngày được chia thành 2 nhóm: nhóm chứng 30 bệnh nhân; nhóm nghiên cứu 62 bệnh nhân. Mỗi bệnh nhân nghiên cứu được chọc hút khoảng 240ml dịch tủy xương từ mào chậu, chống đông bằng 60ml dung dịch heparin, thực hiện quy trình chiết tách và cô đặc giảm thể tích bằng phương pháp ly tâm theo gradient tỷ trọng, thu được 30ml khối tế bào đơn nhân tủy xương. Khối tế bào đơn nhân sẽ được sử dụng lại cho chính bệnh nhân theo đường tĩnh mạch (Nhóm TM: 31 bệnh nhân) và qua đường can thiệp nội mạch (Nhóm ĐM: 31 bệnh nhân). Tính an toàn sẽ được đánh giá ở thời điểm trong vòng 7 ngày sau khi dụng đến khối tế bào đơn nhân tủy xương. Hiệu quả được đánh giá qua các thang điểm NIHSS, BI ở ngày thứ 30. Kết quả: Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu nhóm TM 59,5±8,9 tuổi, Nhóm ĐM 58,0 ± 9,6, trong các nhóm Nam giới đều chiếu tỉ lệ cao. Số lượng tế bào có nhân trong khối tế bào đơn nhân tủy xương tự thân là 27,27±15,69G/L với 73,71±18,52% đơn nhân, không có sự khác biệt về các chỉ số tế bào trong khối tế bào ở nhóm TM và nhóm ĐM. Trong vòng 7 ngày đầu sau khi sử dụng tế bào đơn nhân tủy xương chỉ ghi nhận một số trường hợp sốt và không ghi nhận thêm biến cố bất lợi nào khác. Sau 30 ngày thang điểm NIHSS và BI ở nhóm ĐM cải thiện có ý nghĩa thống kê hơn so với nhóm chứng và trước điều trị; Nhóm TM ghi nhận sự cải thiện 2 thang điểm trên so với trước điều trị và cải thiện thang điểm NIHSS so với nhóm chứng. Kết luận: Bước đầu đánh giá liệu pháp sử dụng tế bào đơn nhân tủy xương tự thân ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não là an toàn và có cải thiện lâm sàng ở một số thang điểm như NIHSS và BI.
Đánh giá hiệu quả điều trị ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài trên bệnh nhi mắc bệnh bạch cầu cấp dòng lympho. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu hàng loạt trường hợp trẻ em bạch cầu cấp dòng lympho được điều trị bằng phương pháp ghép tế bào gốc taọ máu đồng loài tại Bệnh viện Truyền Máu Huyết Học từ năm 2012-2023. Kết quả: Có 14 trường hợp bệnh nhi mắc bạch cầu cấp dòng lympho được điều trị ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài. Tất cả các bệnh nhân đều đạt lui bệnh trước ghép. Tỉ lệ hồi phục bạch cầu hạt tích lũy tại ngày thứ 30 trong nghiên cứu là 93% với khoảng tin cậy 95% (59,1 – 99), tỉ lệ hồi phục tiểu cầu tích lũy trong nghiên cứu là 78,5% với khoảng tin cậy 95% (47,2 – 92,5).Tác dụng phụ chủ yếu là sốt giảm bạch cầu hạt, nhiễm trùng và tái hoạt CMV. Cho tới thời điểm hiện tại, 10/14 người bệnh tử vong, 4/14 người bệnh còn sống và tất cả các trường hợp này đều lui bệnh hoàn toàn sau ghép. Kết luận: Ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài là liệu pháp điều trị có khả năng chữa khỏi bệnh cho người bệnh nhưng vẫn mang nhiều thách thức ở thời điểm hiện tại.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cũng như đánh giá hiệu quả của điều trị nội tiết kết hợp thuốc ức chế CDK4/6 trên bệnh nhân ung thư vú de novo (ung thư vú giai đoạn IV) thụ thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 48 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến vú de novo thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính tại Bệnh viện K từ tháng 01/2020 tới tháng 02/2024. Kết quả: Tuổi trung bình ở thời điểm chẩn đoán là 56,0 tuổi. Các vị trí di căn thường gặp trong nghiên cứu lần lượt là xương, hạch, phổi và gan chiếm tỷ suất 70,8%, 41,7%, 35,4% và 25%. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ đáp ứng chung của phác đồ là 77,1%. Trong đó tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn là 2,1%, tỷ lệ đáp ứng một phần là 75% và 10,4% bệnh nhân đạt bệnh giữ nguyên, như vậy lợi ích lâm sàng đạt được là 87,5%. Trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển là 26 tháng. Kết luận: Điều trị nội tiết kết hợp thuốc ức chế CDK4/6 trên nhóm bệnh nhân ung thư vú de novo thụ thể nội tiết dương tính, HER2 âm tính cho tỷ lệ kiểm soát bệnh, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển cao. Do vậy phác đồ có thể được sử dụng rộng rãi hơn trong thực hành lâm sàng.
Xác định độ an toàn và giá trị của sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán bướu tuyến nước bọt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca hồi cứu 102 bệnh nhân được chẩn đoán bướu tuyến bọt, có chỉ định sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm và được phẫu thuật tại khoa Ngoại đầu cổ, tai mũi họng, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 3/2023 đến tháng 3/2024. Kết quả: Chúng tôi thu nhận được 102 bệnh nhân, tuổi trung bình là 53,5 (17 – 83 tuổi). Bướu tuyến mang tai chiếm đa số 90,2%; bướu tuyến dưới hàm chiếm 9,8%; không có trường hợp nào bướu tuyến dưới lưỡi. 100% trường hợp được thực hiện sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm trước mổ, tỉ lệ không đủ mô bệnh phẩm chiếm 2,9%. Kết quả mô bệnh học sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm: bướu hỗn hợp chiếm đa số 41,4%; bướu Warthin chiếm 31,4%; bướu ác tính 15,1% và bướu lành tính khác 12,1%. Sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm chẩn đoán bướu ác tính với độ nhạy 93,3%; độ đặc hiệu 98,8%; chẩn đoán chính xác loại mô học 85,7% và độ biệt hóa là 28,6%. Tỉ lệ phẫu thuật là 100%. Không ghi nhận bất kỳ biến chứng cấp tính sau thủ thuật (tụ máu, biến chứng liệt thần kinh VII, biến chứng dò nước bọt). Kết luận: Sinh thiết lõi kim dưới hướng dẫn siêu âm là một phương pháp chẩn đoán có giá trị với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm rất cao, đồng thời là thủ thuật rất an toàn với tỉ lệ biến chứng cấp tính thấp trong chẩn đoán bướu tuyến nước bọt.
Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị và một số tác dụng không mong muốn của phác đồ hóa trị tân bổ trợ kết hợp hóa xạ trị đồng thời trên người bệnh ung thư hạ họng thanh quản giai đoạn III, IVA – B không phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu có theo dõi dọc tiến hành trên 39 người bệnh UTHH - TQ giai đoạn III, IVA – B không phẫu thuật điều trị hóa chất tân bổ trợ phác đồ Docetaxel - Cisplatin - 5Flourouracil (TCF) sau đó hóa xạ trị đồng thời với Carboplatin AUC 1.5 tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ an từ tháng 01/2018 đến tháng 8/2023. Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình 56,1 ± 5,71; 100% nam giới; giai đoạn IV chiếm phần lớn (80,7 %); tỉ lệ đáp ứng toàn bộ 76,9%; tỉ lệ kiểm soát bệnh 94,9%; trung vị thời gian PFS là 8,5 ± 0,98 tháng; trung vị thời gian sống còn toàn bộ là 18 ± 3,4 tháng. Độc tính: Độc tính thường gặp là hạ bạch cầu, trong đó hạ bạch cầu độ 3 chiếm 25,6% và hạ độ 4 chiếm 17,9%. Độc tính khác đều ở mức độ nhẹ và hồi phục khi ngừng điều trị. Kết luận: Phác đồ hóa trị tân bổ trợ TCF kết hợp hóa xạ trị đồng thời trên người bệnh UTHH - TQ giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật có tỉ lệ đáp ứng cao, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển và sống còn toàn bộ dài, độc tính phác đồ dung nạp tốt, do đó có thể lựa chọn điều trị bước 1 cho các trường hợp UTHH - TQ giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật cần bảo tồn thanh quản.
Đánh giá hiệu quả của vạt đảo mũi má cuống trên tái tạo khuyết hổng trong phẫu thuật ung thư da mặt. Phương pháp: Mô tả loạt ca ung thư da mặt được điều trị bằng phẫu thuật tận gốc, tái tạo khuyết hổng bằng vạt đảo mũi má cuống trên từ 01/2022 đến 8/2024 tại Khoa Ngoại đầu cổ, tai mũi họng, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Kết quả: Trong thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 7/2024, chúng tôi đã thực hiện 31 ca phẫu thuật tái tạo vùng mặt sử dụng vạt đảo mũi má cuống trên. Tỉ số nam/nữ là 10/21. Tuổi trung bình là 66 ± 1,8 (62 - 69tuổi); Xếp giai đoạn T1 có 5 trường hợp, T2 có 20 trường hợp, T3 có 5 trường hợp, T4 có 1 trường hợp. Kết quả giải phẫu bệnh - mô học sau mổ với 90,3% carcinôm tế bào đáy và 9,7% carcinôm tế bào gai, 90,3% trường hợp có diện cắt âm tính. Thời gian theo dõi trung bình là 12 tháng và không có trường hợp nào tái phát. Diện tích khuyết hổng trung bình là 11 ± 1,1cm2. Diện tích vạt trung bình là 20,3 ± 2cm2 với diện tích nhỏ nhất là 16,3cm2 và lớn nhất là 24,3cm2. Kết quả thẩm mỹ rất tốt đạt 45,2%, tốt đạt 35,5%, trung bình đạt 16,1% và xấu là 3,2%. Kết luận: Phẫu thuật tạo hình khuyết hổng bằng vạt đảo mũi má cuống trên sau phẫu thuật ung thư da vùng mặt là một trong những lựa chọn giúp tạo hình tốt khuyết hổng tại chỗ, đảm bảo thẩm mỹ, thời gian phục hồi nhanh, không cần phẫu thuật thì hai.
Xác định tỉ lệ người bệnh đạt đáp ứng sinh học phân tử sâu (DMR: Deep Molecular response) cộng dồn theo thời gian Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu 202 người bệnh (NB) bạch cầu mạn dòng tủy (BCMDT) giai đoạn mạn mới chẩn đoán tại bệnh viện Truyền máu Huyết học từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 6 năm 2024. Kết quả: Tuổi trung vị là 43 (18-83). Tỉ lệ NB đạt MR4 tăng dần theo thời gian tại thời điểm 12 tháng, 24 tháng và 36 tháng lần lượt là 3,5% (95% KTC: 1,5 – 5,5%), 22,3% (95% KTC: 16 – 28,6%) và 41,6% (95% KTC: 34-49,2%). Kết luận: NB BCMDT điều trị Imatinib 400mg/ ngày có tỉ lệ đạt DMR tăng dần trong thời gian nghiên cứu. Điều này giúp xem xét những NB điều trị Imatinib trên 3 năm đạt DMR vào nhóm đối tượng lui bệnh khi không điều trị (TFR- Treatment-free remission).
Triển khai kỹ thuật RQ-PCR định lượng tổ hợp gen CBFB/MYH11. Đối tượng: Mẫu người bệnh có mang tổ hợp gen CBFB/MYH11 type A đã xác định trước bằng kỹ thuật RT-PCR. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu triển khai kỹ thuật mới. Kết quả: Chúng tôi đã thành công ứng dụng kỹ thuật RQ-PCR trong định lượng tổ hợp gen CBFB/MYH11. RQ-PCR định lượng tổ hợp gen CBFB/MYH11 được chuẩn hoá ở nghiên cứu này đạt giới hạn phát hiện 10-5. Toàn bộ 6 người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi có bệnh tồn lưu tối thiểu CBFB/MYH11 dương tính sau giai đoạn tấn công và 3/3 người bệnh có bệnh tồn lưu tối thiểu CBFB/MYH11 âm tính khi kết thúc điều trị. Kết luận: Đây là công cụ hữu ích nhằm đánh giá bệnh tồn lưu tối thiểu, giúp định hướng điều trị và tiên lượng cho người bệnh bạch cầu cấp dòng tủy mang tổ hợp gen CBFB/MYH11 lúc chẩn đoán.
Khảo sát đặc điểm di truyền tế bào trên nhiễm sắc thể đồ tủy xương của bệnh nhân loạn sản tủy. Đối tượng: Bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng loạn sản tủy theo tiêu chuẩn của WHO 2016 tại khoa Huyết học, bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 5 năm 2021 đến tháng 5 năm 2024. Phương pháp nghiên cứu: mô tả hàng loạt ca. Kết quả: Chúng tôi ghi nhận được 98 bệnh nhân loạn sản tủy có trung bình tuổi là 61,4 ± 1,2 tuổi, nam giới chiếm 53,06%, trong đó 39,8% bệnh nhân có công thức nhiễm sắc thể bất thường. Tỉ lệ blast giữa nhóm có bất thường di truyền tế bào cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân không có bất thường di truyền tế bào. Trong tổng số 98 BN, có 59 BN (60,2%) có công thức nhiễm sắc thể bình thường, 12 BN (12,24%) bất thường di truyền tế bào số lượng NST, 12 BN (12,24%) đa tổn thương, 11 BN (11,22%) bất thường di truyền tế bào NST đơn lẻ và 4 BN (4,08%) có bất thường di truyền tế bào số lượng cũng như cấu trúc NST. Theo phân nhóm tiên lượng WPSS, bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao và trung bình chiếm tỉ lệ lần lượt là 38,78%, 30,61%. Bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ thấp, trung bình, cao và rất cao theo tiêu chẩn IPSS-R chiếm tỉ lệ lần lượt là 29,59%, 26,53%, 25,51% và 18,37%. Tần suất bất thường di truyền tế bào thêm nhiễm sắc thể số 8 xuất hiện cao ở 3 nhóm bệnh SLD, MLD, EB-2 lần lượt là 50%, 35,29% và 33,33%. Kết luận: Bất thường di truyền tế bào ở bệnh nhân có chỉ số blast cao hơn so BN không có bất thường di truyền tế bào, bệnh nhân phân bố tập trung ở nhóm tiên lượng nguy cơ cao và nguy cơ trung bình, trong đó bất thường di truyền thường gặp nhất là thêm nhiễm sắc thể số 8.
Khảo sát các yếu tố liên quan đến một kết quả kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính trên các bệnh nhân tại bệnh viện E. Đối tượng: 110 bệnh nhân được thực hiện xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA 23 profile) tại Khoa Huyết học, Bệnh viện E. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, Thống kê T-test, Chi-q test. Kết quả: Nhóm nghiên cứu bao gồm 110 bệnh nhân bao gồm 56 bệnh nhân với triệu chứng lâm sàng đã được phân loại, khuyến cáo cho các bệnh tự miễn và 54 bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng không điển hình rõ ràng; 74 (67,3%) bệnh nhân dương tính với ít nhất một trong 23 tự kháng thể kháng nhân (ANA) và 36 (32,7%) bệnh nhân cho kết quả âm tính. Nghiên cứu cũng cho thấy ảnh hưởng của giới tính tới tỷ lệ ANA dương tính (nữ có tỷ lệ cao hơn nam) với p = 0,026 nhưng sự khác biệt giữa ba nhóm tuổi 0 – 20; 21 – 50; 51 – 90 tuổi không có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu cho thấy mặc dù có mối tương quan giữa tỷ lệ ANA dương tính và nhóm có triệu chứng lâm sàng điển hình nhưng kết quả ANA trên tổng thể nghiên cứu sàng lọc có thể bị ảnh hưởng bởi các triệu chứng lâm sàng không điển hình và còn bị ảnh hưởng bởi giới tính cũng như độ tuổi.