CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Giá trị của Interleukin-6 huyết thanh trong dự báo biến cố nội viện ở bệnh nhân suy tim mất bù cấp / Nhữ Vĩnh Liêm, Nguyễn Thị Diễm // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 566-573 .- 610
Viêm hệ thống giữ vai trò trung tâm trong sinh lý bệnh suy tim mất bù cấp, trong đó Interleukin-6 là cytokine tiền viêm quan trọng, nhưng dữ liệu về giá trị tiên lượng ngắn hạn của dấu ấn này còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trên 70 bệnh nhân suy tim mất bù cấp nhằm khảo sát giá trị của Interleukin-6 huyết thanh trong dự báo biến cố nội viện tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh. Kết quả ghi nhận có 12,9% bệnh nhân xảy ra biến cố nội viện, gồm 10,0% thở máy và 2,9% tử vong. Nồng độ Interleukin-6 ở nhóm có biến cố cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có biến cố, trung vị lần lượt là 303,80 pg/mL và 11,70 pg/mL (p < 0,001). Interleukin-6 cho thấy khả năng phân định biến cố nội viện ở mức tốt (AUC = 0,891), cao hơn NT-proBNP (AUC = 0,818). Tại điểm cắt 56,8 pg/mL, Interleukin-6 đạt độ nhạy 88,9%, độ đặc hiệu 80,3%, giá trị tiên đoán dương 40,0% và giá trị tiên đoán âm 98,0%.
2 Tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến chuyển dạ kéo dài giai đoạn hoạt động: Nghiên cứu cắt ngang trên 504 thai phụ / Phạm Anh Tuấn , Phạm Thị Thu Trang, Võ Huỳnh Trang // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 574-582 .- 610
Chuyển dạ kéo dài giai đoạn hoạt động là một nguyên nhân quan trọng làm tăng tỷ lệ can thiệp sản khoa cũng như biến chứng cho mẹ và con, vì vậy việc xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan có ý nghĩa thiết thực trong quản lý chuyển dạ và dự phòng kết cục bất lợi. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 504 thai phụ chuyển dạ giai đoạn hoạt động tại Bệnh viện Thuận Mỹ TDM từ tháng 05/2025 đến tháng 01/2026. Chuyển dạ kéo dài được xác định khi cổ tử cung mở từ 4 cm trở lên kèm tốc độ mở dưới 1 cm/giờ hoặc đường biểu diễn lệch phải so với đường báo động trên sản đồ WHO 2002.
3 Đặc điểm bước đầu đa hình rs13266634 gen SLC30A8 và mối liên quan với các chỉ số đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường / Đỗ Quang Hiệu, Lưu Ngọc Trân, Nguyễn Tiến Dũng, Phạm Gia Thế, Đoàn Thị Kim Châu // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 583-591 .- 610
Một số dữ liệu di truyền học trên các quần thể khác nhau cho thấy đa hình rs13266634 gen SLC30A8 có thể liên quan với nguy cơ mắc bệnh và đặc điểm kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường, tuy nhiên dữ liệu tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 90 bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh từ tháng 09/2025 đến tháng 01/2026. Kết quả cho thấy kiểu gen CT chiếm tỷ lệ cao nhất với 65,6%, tiếp theo là CC 26,7% và TT 7,8%; tần suất alen C và alen T lần lượt là 59,4% và 40,6%. Đường huyết lúc đói và HbA1c khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm kiểu gen (p < 0,05). Trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến hiệu chỉnh theo tuổi, BMI, hút thuốc lá, sử dụng insulin và số thuốc phối hợp, mỗi alen T bổ sung liên quan với tăng đường huyết lúc đói trung bình 23,86 mg/dL và tăng HbA1c trung bình 0,45%. Nghiên cứu bước đầu cho thấy đa hình rs13266634 gen SLC30A8 có thể liên quan với đường huyết lúc đói và HbA1c ở bệnh nhân đái tháo đường tại Việt Nam.
4 Tỉ lệ và một số yếu tố liên quan tiền đái đường ở bệnh nhân tăng huyết áp / Lâm Thị Chư Láng, Ngô Phúc Thảo, A Đam, Trần Kim Sơn // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 592-598 .- 610
Tiền đái tháo đường là tình trạng rối loạn dung nạp glucose, làm tăng nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường type 2 và bệnh tim mạch, đặc biệt ở bệnh nhân tăng huyết áp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 135 bệnh nhân tăng huyết áp đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ nhằm xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến tiền đái tháo đường. Thu thập thông tin qua phỏng vấn, đo các chỉ số nhân trắc học và xét nghiệm glucose máu lúc đói (FPG), HbA1c, bộ mỡ, siêu âm Doppler tim, protein niệu. Kết quả cho thấy tỉ lệ tiền đái tháo đường là 58,5%, liên quan đến BMI, vòng bụng, huyết áp và tiền sử gia đình đái tháo đường. Tỉ lệ này cao, cho thấy cần tăng cường tầm soát để can thiệp sớm và phòng ngừa biến chứng.
5 Phản hồi về phương pháp giảng dạy lâm sàng one-minute preceptor của sinh viên Phân hiệu Trường Đại học Y Hà Nội tại Thanh Hóa năm học 2024 - 2025 / Lê Thị Thùy Dương, Hoàng Thị Phương Linh, Nguyễn Diệp Anh, Trần Ngọc Anh, Đỗ Thanh Hương, Lê Đình Tùng, Bùi Văn Dân // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 599-606 .- 610
Phân tích các phản hồi của sinh viên về phương pháp giảng dạy One-Minute Preceptor (OMP) là cơ sở quan trọng để hoàn thiện phương pháp này. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 232 sinh viên Y khoa năm thứ tư đến năm thứ sáu tại Phân hiệu Trường Đại học Y Hà Nội về phản hồi đối với phương pháp OMP. Nghiên cứu cho thấy sinh viên có phản hồi tích cực đối với phương pháp OMP, với tỷ lệ đồng ý và rất đồng ý từ 59,9% đến 70,7%. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của OMP mà sinh viên phản hồi gồm: thiếu thời gian học tập, cơ sở lâm sàng chưa đáp ứng đủ điều kiện, giảng viên tiếp cận chưa hoàn toàn đúng phương pháp và sự thụ động của người học. Sinh viên cũng đề xuất tăng số buổi học, thời gian học và số lượng ca bệnh trong mỗi buổi học. Phương pháp OMP được sinh viên đón nhận tích cực và có tính khả thi trong giảng dạy lâm sàng. Việc cải thiện điều kiện triển khai và chuẩn hóa cách áp dụng phương pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo lâm sàng.
6 Giá trị Galectin-3 kết hợp NT-proBNP trong tiên lượng hội chứng tim thận type 1 ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn / Từ Mỹ Nhi, Bùi Thế Dũng, Trần Viết An, Trần Thị Thu Thảo // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 607-614 .- 610
Galectin-3 và NT-proBNP có vai trò quan trọng trong phân tầng nguy cơ và tiên lượng. Galectin-3 phản ánh quá trình xơ hóa cơ tim, NT-proBNP phản ánh sức căng thành cơ tim. Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát giá trị của Galectin-3 kết hợp với NT-proBNP trong hội chứng tim thận type 1 ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 92 bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp suy tim mạn tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Kết quả: Trung vị Galectin-3 là 32,05 ng/mL (24,13 – 46) và NT-proBNP là 8914 pg/mL (4210,6 – 22.352,3). Có 46,74% trường hợp có hội chứng tim thận type 1. Trong dự báo hội chứng tim thận type 1, Galectin-3 có giá trị AUC là 0,736 với độ nhạy 72,1% và độ đặc hiệu 67,3%. Khi kết hợp Galectin-3 và NT-proBNP, AUC tăng lên 0.745 với độ nhạy 76,7%, độ đặc hiệu 63,3%. Từ đó cho thấy, Galectin-3 kết hợp NT-proBNP có giá trị tiên lượng hội chứng tim thận type 1 ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn.
7 Sản xuất thử nghiệm mẫu ngoại kiểm nước tiểu định lượng dạng lỏng cho xét nghiệm albumin niệu và protein niệu / Lê Vũ Huyền Trang, Nguyễn Trần Phương, Nguyễn Thị Dinh, Ngô Diệu Hoa, Nguyễn Quỳnh Giao, Phạm Thị Hương Trang // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 615 - 624 .- 610
Tại Việt Nam, mẫu ngoại kiểm nước tiểu định lượng chủ yếu phụ thuộc nhập khẩu với chi phí cao và chưa phù hợp nhu cầu thực tế vốn chỉ tập trung chủ yếu vào albumin và protein niệu. Nghiên cứu này được thực hiện thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, sản xuất mẫu ngoại kiểm dạng lỏng cho xét nghiệm albumin và protein niệu, chất lượng mẫu được đánh giá theo tiêu chuẩn ISO 13528:2022. Kết quả: Ba lô mẫu được tạo ra với nồng độ albumin là 43; 180; 387 mg/L và protein là 0,08; 0,22; 0,42 g/L, bao phủ các mức quyết định lâm sàng. Các lô mẫu đạt độ đồng nhất, độ ổn định vận chuyển và ổn định dài hạn trong 8 tuần ở 2 - 8°C. Nghiên cứu chứng minh tính khả thi của việc sản xuất mẫu ngoại kiểm nước tiểu định lượng trong nước, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và có tiềm năng ứng dụng thực tế.
8 Đánh giá sự phù hợp giữa các phương pháp xác định tình trạng mất nước ở người bệnh cao tuổi nội trú tại bệnh viện / Nguyễn Thùy Linh, Trần Phương Thảo, Nguyễn Thị Dịu // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 625-633 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 451 người bệnh ≥ 60 tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm xác định tỷ lệ mất nước và đánh giá mức độ phù hợp giữa các phương pháp chẩn đoán. Các chỉ số thu thập bao gồm đặc điểm nhân trắc, tình trạng dinh dưỡng (MNA), lượng nước tiêu thụ, thang điểm GULP, áp lực thẩm thấu huyết tương, tỷ lệ BUN/creatinine và tỷ lệ nước cơ thể (%TBW). Kết quả cho thấy tỷ lệ nguy cơ mất nước theo GULP rất cao (95,57%). Tỷ lệ thiếu nước khác nhau tùy theo phương pháp đánh giá, lần lượt là 34,6% theo áp lực thẩm thấu, 41,7% theo BUN/Cre và 48,8% theo %TBW. Mức độ phù hợp giữa các phương pháp còn hạn chế với hệ số Kappa thấp, đồng thời phân tích Spearman cho thấy mối tương quan giữa các chỉ số nhìn chung yếu.. Những kết quả này cho thấy không có phương pháp đơn lẻ nào đủ để đánh giá toàn diện tình trạng mất nước ở người cao tuổi, do đó cần kết hợp các phương pháp lâm sàng, sinh hóa và thành phần cơ thể nhằm nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán và hỗ trợ can thiệp kịp thời.
9 Định lượng tự động dấu ấn CD3+ ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập bằng phần mềm QuPath: Tổng quan y văn và thử nghiệm thực tiễn tại Việt Nam / Trần Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Phương Thảo, Nguyễn Vũ Thiện, Trần Hương Giang, Nguyễn Ngọc Lâm, Ngô Phúc Thịnh, Lưu Đức Tùng, Nguyễn Thị Hoàng An // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 634-644 .- 610
Việc đánh giá thấm nhập lymphô bào trong u (TILs) thông qua biểu hiện của dấu ấn CD3+ mang lại giá trị tiên lượng độc lập trong ung thư biểu mô tuyến vú. Tuy nhiên, việc đánh giá ước lượng truyền thống đang tồn tại độ biến thiên giữa những lần đọc cũng như giữa các bác sĩ Giải Phẫu Bệnh. Bài viết này đề xuất một quy trình 4 bước ứng dụng phần mềm QuPath và đánh giá tính khả thi bước đầu trên nhóm mẫu thử nghiệm gồm 14 tiêu bản kỹ thuật số (WSI) tại Việt Nam. Quy trình tập trung vào việc hiệu chuẩn véc-tơ màu mật độ quang học (OD), phân đoạn tế bào dựa trên thuật toán Watershed và gán nhãn CD3+ tự động thông qua ngưỡng cường độ DAB. Kết quả thực chứng cho thấy khả năng trích xuất khách quan các thông số mật độ TILs/mm² với tính lặp lại cao. Tuy nhiên, độ chính xác của mô hình trí tuệ tăng cường này phụ thuộc chặt chẽ vào sự đồng nhất màu nhuộm và chất lượng khâu tiền phân tích. QuPath là giải pháp chiến lược giúp hỗ trợ bác sĩ giải phẫu bệnh trong định lượng CD3+, nhưng việc triển khai thực tế đòi hỏi sự chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và đào tạo chuyên sâu về bệnh học kỹ thuật số.
10 Đặc điểm thiếu máu và tỷ lệ mang gen thalassemia của học sinh tại Trường Trung học cơ sở Chu Hương tỉnh Bắc Kạn năm 2024 / Trần Thị Hồng Vân, Bùi Thị Thu Hương, Mai Anh Tuấn, Hứa Thị Diễm, Lò Minh Trọng, Nguyễn Trà My, Đỗ Trung Toàn, Đỗ Thành Tôn // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 645-651 .- 610
Thalassemia là bệnh lý thiếu máu tan máu di truyền do khuyết thiếu trong tổng hợp của một loại chuỗi globin. Khoảng 13% tổng dân số mắc bệnh và có thể lên đến 30 - 40% ở các dân tộc thiểu số, phân bố tập chung tại khu vực miền núi phía Bắc. Tỉnh Bắc Kạn thuộc khu vực miền núi phía Bắc với hơn 80% dân số là người dân tộc thiểu số. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên học sinh học tại trường Trung học cơ sở Chu Hương tỉnh Bắc Kạn: Tỷ lệ thiếu máu chung của đối tượng là 35,08% trong đó thiếu máu kèm theo sắt huyết thanh thấp là 9,42%; tỷ lệ thiếu máu có mang gen thalassemia 11%; số trẻ có mang gen thalassemia là 23,48%; thể mang gen bệnh α - thalassemia chiếm 58,06% tổng số đối tượng mang gen bệnh với 2 loại đột biến chủ yếu: 3.7 và SEA.