Sự hình thành của các ý niệm này không phải là ngẫu nhiên và rập khuôn theo một nguyên tắc ngôn ngữ học nào đó mà nó đến từ sự trải nghiệm trong dòng chảy biến đổi của thời gian, tập quán xã hội và các yếu tố văn hóa dẫn đến sự tri nhận của người nói ngôn ngữ đó về các hiện tượng của cuộc sống. Trong bài viết này, tác giả phân tích sự phát triển ngữ nghĩa của động từ ăn trong tiếng Việt và động từ meokda trong tiếng Hàn nhìn từ mô hình tri nhận lí tưởng (idealized cognitive models - ICMs), từ đó xác lập nên cơ sở để lí giải một số hiện tượng ngôn ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hàn.
Trên cơ sở của cách tiếp cận liên ngành nhưng lấy góc nhìn ngôn ngữ học là chính, thử đưa ra một cách giải thích về từ nguyên của địa danh ngã ba “Bông”. Kết quả giải thích về từ nguyên của tên gọi cho thấy ở lưu vực sông Mã, vào giai đoạn tiền sử tương ứng với thời kì văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, cư dân sinh sống ở đây chính là cộng đồng người sử dụng những ngôn ngữ nhóm tiếng Việt, nhánh Môn-Khmer thuộc họ Nam Á ở Đông Nam Á.
Nghiên cứu về những điểm giống nhau và khác nhau giữa ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm. Kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy đặc trưng của hai phương thức tư duy này qua từng ví dụ cụ thể.
Nghiên cứu về thành ngữ từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, nhất là khía cạnh ẩn dụ tri nhận, hiện đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm vì nghiên cứu vấn đề này có thể giúp làm sáng tỏ ý nghĩa của thành ngữ cũng như đặc trưng văn hóa của mỗi quốc gia được thể hiện qua những thành ngữ này. Từ quan điểm này, và trên cơ sở các phương pháp miêu tả trên cơ sở kết hợp giữa phân tích định lượng và định tính, nghiên cứu này xem xét và phân tích vai trò của ẩn dụ ý niệm con người là thực vật được thể hiện quan thành ngữ được sử dụng trong truyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam, đối sánh với các tác phẩm văn học Anh-Mỹ, với mục tiêu nhằm khẳng định tầm quan trọng của chúng trong việc kiến tạo nghĩa hàm ẩn, tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt về đặc trưng ngôn ngữ văn hoá giữa giữa các dân tộc nằm ẩn sâu trong các lớp thành ngữ được sử dụng trong các tác phẩm văn học.
Trong bài viết này, nhóm tác giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, khảo sát tình hình sử dụng công nghệ dịch thuật của sinh viên ngành ngôn ngữ thuộc ba trường là Trường Đại học Ngoại thương, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN và Trường Đại học Hà Nội. Kết quả nghiên cứu sẽ phản ánh thực trạng sử dụng, đánh giá hiệu quả sử dụng ở ba khía cạnh tính năng, hiệu suất và chất lượng bản dịch, đồng thời chỉ ra một số hạn chế khác về thiết kế của công nghệ dịch thuật. Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp các nhà phát triển công nghệ nắm bắt thực trạng, tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và tối ưu hoá hiệu suất của công nghệ dịch thuật trong quá trình học tập và làm việc của người học.
Từ góc nhìn của quá trình sáng tạo kí hiệu thẩm mĩ, bài thơ như là một phức thể ý nghĩa được cấu thành từ những đơn vị ngôn từ dưới sự sáng tạo công phu của nhà nghệ sĩ. Việc giải mã chùm thơ thiền của Triều Tâm Ảnh bằng thao tác phân tích cấu trúc nghĩa tố của từng kí hiệu sẽ làm rõ thêm các thao tác tư duy trong ba cấp độ lập mã để tạo ra chất liệu cơ bản cho một bài thơ. Quá trình này cũng góp phần làm hoàn thiện thêm bộ công cụ lí thuyết trong nghiên cứu ngôn ngữ thơ nói chung, thơ tiếng Việt nói riêng.
Nghiên cứu về giá trị di sản Hán Nôm của dân tộc Dao ở Tuyên Quang trong việc giảng dạy chữ Nôm cho người dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung nghiên cứu ba tác phẩm Tuyên Quang tỉnh Yên Sơn phủ bạch quần man thư 宣光省安山府白裙蠻書, Tuyên Quang tỉnh Chiêm Hóa châu các chủng man thư 宣光省占化州各種蠻書, Tuyên Quang tỉnh Hàm Yên châu bạch quần man thư 宣光省咸安州白裙蠻書 để thấy được giá trị văn bản học, giá trị nội dung và đặc điểm của nó trong việc giảng dạy chữ Hán Nôm cho người dân tộc thiểu số.
Có thể nhận xét rằng “thì” vốn có chức năng của từ nối nhưng chính việc làm tác tử phân giới Đề và Thuyết đã làm xuất hiện nét nghĩa tình thái nhằm đồng thời nhấn mạnh vào ý nghĩa sự thể trong câu/ phát ngôn. Điều đó giải thích rằng tuy là một Liên từ nhưng vì sao “thì” có tần suất xuất hiện cao nhất trong số các hư từ tiếng Việt ở trong câu.
Tên riêng là một vấn đề hệ trọng và thiêng liêng. Tuy nhiên, tên riêng không phải là tổ hợp định danh “nhất thành bất biến”. Giống như mọi sự vật, hiện tượng, tên riêng ra đời, tồn tại và phát triển theo thời gian. Mỗi tên riêng có cuộc sống riêng. Có thể nói, tên riêng thuộc phạm trù lịch sử. Bài viết bàn về một số vấn đề liên quan tới sự thay đổi, điều chỉnh địa danh hành chính trong tiến trình lịch sử nhân chủ trương sắp xếp tên địa danh (huyện, xã) của Nhà nước ta.
Nghiên cứu đặc điểm của ngôn ngữ Gen Z Việt Nam trên dữ liệu gồm 1.250 từ và 250 cụm từ được thu thập từ các nền tảng mạng xã hội và giao tiếp thực tế. Các từ ngữ được lập chỉ mục, gán nhãn đặc điểm về ý nghĩa, ngữ cảnh sử dụng, ví dụ và từ ngữ đối dịch tiếng Anh. Với dữ liệu này, bài viết đề xuất giải pháp xây dựng chatbot Từ điển ngôn ngữ Gen Z trên nền tảng Coze AI nhằm hỗ trợ giáo dục kĩ năng giao tiếp số cho thanh thiếu niên.