Tại Việt Nam, mẫu ngoại kiểm nước tiểu định lượng chủ yếu phụ thuộc nhập khẩu với chi phí cao và chưa phù hợp nhu cầu thực tế vốn chỉ tập trung chủ yếu vào albumin và protein niệu. Nghiên cứu này được thực hiện thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, sản xuất mẫu ngoại kiểm dạng lỏng cho xét nghiệm albumin và protein niệu, chất lượng mẫu được đánh giá theo tiêu chuẩn ISO 13528:2022. Kết quả: Ba lô mẫu được tạo ra với nồng độ albumin là 43; 180; 387 mg/L và protein là 0,08; 0,22; 0,42 g/L, bao phủ các mức quyết định lâm sàng. Các lô mẫu đạt độ đồng nhất, độ ổn định vận chuyển và ổn định dài hạn trong 8 tuần ở 2 - 8°C. Nghiên cứu chứng minh tính khả thi của việc sản xuất mẫu ngoại kiểm nước tiểu định lượng trong nước, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và có tiềm năng ứng dụng thực tế.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 451 người bệnh ≥ 60 tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm xác định tỷ lệ mất nước và đánh giá mức độ phù hợp giữa các phương pháp chẩn đoán. Các chỉ số thu thập bao gồm đặc điểm nhân trắc, tình trạng dinh dưỡng (MNA), lượng nước tiêu thụ, thang điểm GULP, áp lực thẩm thấu huyết tương, tỷ lệ BUN/creatinine và tỷ lệ nước cơ thể (%TBW). Kết quả cho thấy tỷ lệ nguy cơ mất nước theo GULP rất cao (95,57%). Tỷ lệ thiếu nước khác nhau tùy theo phương pháp đánh giá, lần lượt là 34,6% theo áp lực thẩm thấu, 41,7% theo BUN/Cre và 48,8% theo %TBW. Mức độ phù hợp giữa các phương pháp còn hạn chế với hệ số Kappa thấp, đồng thời phân tích Spearman cho thấy mối tương quan giữa các chỉ số nhìn chung yếu.. Những kết quả này cho thấy không có phương pháp đơn lẻ nào đủ để đánh giá toàn diện tình trạng mất nước ở người cao tuổi, do đó cần kết hợp các phương pháp lâm sàng, sinh hóa và thành phần cơ thể nhằm nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán và hỗ trợ can thiệp kịp thời.
Việc đánh giá thấm nhập lymphô bào trong u (TILs) thông qua biểu hiện của dấu ấn CD3+ mang lại giá trị tiên lượng độc lập trong ung thư biểu mô tuyến vú. Tuy nhiên, việc đánh giá ước lượng truyền thống đang tồn tại độ biến thiên giữa những lần đọc cũng như giữa các bác sĩ Giải Phẫu Bệnh. Bài viết này đề xuất một quy trình 4 bước ứng dụng phần mềm QuPath và đánh giá tính khả thi bước đầu trên nhóm mẫu thử nghiệm gồm 14 tiêu bản kỹ thuật số (WSI) tại Việt Nam. Quy trình tập trung vào việc hiệu chuẩn véc-tơ màu mật độ quang học (OD), phân đoạn tế bào dựa trên thuật toán Watershed và gán nhãn CD3+ tự động thông qua ngưỡng cường độ DAB. Kết quả thực chứng cho thấy khả năng trích xuất khách quan các thông số mật độ TILs/mm² với tính lặp lại cao. Tuy nhiên, độ chính xác của mô hình trí tuệ tăng cường này phụ thuộc chặt chẽ vào sự đồng nhất màu nhuộm và chất lượng khâu tiền phân tích. QuPath là giải pháp chiến lược giúp hỗ trợ bác sĩ giải phẫu bệnh trong định lượng CD3+, nhưng việc triển khai thực tế đòi hỏi sự chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và đào tạo chuyên sâu về bệnh học kỹ thuật số.
Thalassemia là bệnh lý thiếu máu tan máu di truyền do khuyết thiếu trong tổng hợp của một loại chuỗi globin. Khoảng 13% tổng dân số mắc bệnh và có thể lên đến 30 - 40% ở các dân tộc thiểu số, phân bố tập chung tại khu vực miền núi phía Bắc. Tỉnh Bắc Kạn thuộc khu vực miền núi phía Bắc với hơn 80% dân số là người dân tộc thiểu số. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên học sinh học tại trường Trung học cơ sở Chu Hương tỉnh Bắc Kạn: Tỷ lệ thiếu máu chung của đối tượng là 35,08% trong đó thiếu máu kèm theo sắt huyết thanh thấp là 9,42%; tỷ lệ thiếu máu có mang gen thalassemia 11%; số trẻ có mang gen thalassemia là 23,48%; thể mang gen bệnh α - thalassemia chiếm 58,06% tổng số đối tượng mang gen bệnh với 2 loại đột biến chủ yếu: 3.7 và SEA.
Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả bước đầu của phẫu thuật cắt mảng xơ và ghép bằng tĩnh mạch chủ đồng loài trong điều trị xơ cứng vật hang dương vật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Thiết kế nghiên cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng, đánh giá trước và sau phẫu thuật trên 15 bệnh nhân được phẫu thuật từ 10/2022 đến 02/2024. Tuổi trung bình là 58,07 ± 9,9. Hầu hết bệnh nhân có cong dương vật sang trái và/hoặc lên trên (86,67%). Độ cong trung bình trước mổ là 51,67 ± 6,73°, giảm còn 6,67 ± 4,08 sau mổ 6 tháng. Thời gian phẫu thuật trung bình 106,87 ± 12,2 phút; thời gian theo dõi 19,87 ± 4,36 tháng. Điểm IIEF-5 sau 6 tháng đạt 19,2 ± 1,27. Không ghi nhận trường hợp thải mảnh ghép. Kết quả bước đầu cho thấy phương pháp này có tính khả thi, giúp cải thiện rõ độ cong dương vật, với tính an toàn chấp nhận được. Tuy nhiên, do cỡ mẫu còn nhỏ và vật liệu ghép còn mới, cần có thêm các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn, thời gian theo dõi dài hơn và thiết kế phù hợp hơn để đánh giá đầy đủ hiệu quả và độ an toàn lâu dài của phương pháp.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 438 bệnh nhân ≥ 60 tuổi mắc hội chứng động mạch vành cấp (HCĐMVC) điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang từ 01/2024 đến 01/2026 nhằm khảo sát đặc điểm tỷ số ApoB/ApoA1 và các yếu tố liên quan. Trung vị tỷ số ApoB/ApoA1 là 0,78 (0,59 – 0,97). Tỷ số này cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, suy tim mạn, tiền sử đột quỵ não và khác biệt giữa ba thể lâm sàng của HCĐMVC. Sau hiệu chỉnh trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến và đa kiểm định, tỷ số ApoB/ApoA1 còn liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi (β = -0,058; p-FDR < 0,001), tăng huyết áp (β = 0,081; p-FDR = 0,024), suy tim mạn (β = 0,212; p-FDR < 0,001), đột quỵ não (β = 0,194; p-FDR < 0,001), nhồi máu cơ tim không ST chênh lên (β = 0,110; p-FDR = 0,024) và hs-CRP (β = 0,098; p-FDR < 0,001). Kết quả này cho thấy ApoB/ApoA1 có thể là một dấu ấn bổ sung trong đánh giá nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân cao tuổi mắc HCĐMVC.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang này đánh giá mối liên quan giữa một số allele HLA lớp I và II với mức độ hoạt động bệnh, thực hiện trên 61 người bệnh được chẩn đoán viêm khớp vảy nến theo tiêu chuẩn CASPAR, khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 10/2023 đến tháng 6/2024. HLA được xác định bằng giải trình tự gen thế hệ mới. Mức độ hoạt động bệnh được đánh giá bằng các chỉ số DAPSA, VAS, CRP, số khớp sưng và đau, so sánh giữa nhóm có và không mang allele HLA. Kết quả cho thấy HLA-B*51 liên quan với số khớp đau và điểm VAS thấp hơn, đồng thời giảm tỷ lệ DAPSA >14. HLA-DRB1*16 liên quan đến điểm đau VAS thấp hơn, trong khi HLA-DQB1*03 liên quan đến điểm đau cao hơn. HLA-C*06, HLA-DPB1*104 và HLA-DQB1*03 liên quan với CRP thấp hơn. Các allele HLA-DPB1*26 và HLA-DRB1*08 liên quan đến số khớp sưng cao hơn, trong khi HLA-DRB1*11 liên quan đến số khớp sưng thấp hơn.
Tiêu chảy nhiễm khuẩn kéo dài là tình trạng nhiễm trùng đường tiêu hóa kéo dài trên 14 ngày. Nghiên cứu tiến cứu trên 132 trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi mắc tiêu chảy nhiễm khuẩn kéo dài, điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 8/2023 đến tháng 9/2025. Kết quả nuôi cấy phân cho tỷ lệ dương tính thấp, với Escherichia coli và Salmonella enterica subsp. enterica lần lượt là 9,8% và 5,3%. Real-time PCR đa mồi phát hiện tác nhân vi khuẩn (25,8%) và virus (22,7%); chủ yếu gồm Clostridium difficile (tcdA/tcdB), Campylobacter spp., Escherichia coli và Norovirus GI/GII. Bệnh nhân chủ yếu được điều trị kháng sinh Ceftriaxone. Sữa không lactose được sử dụng phổ biến nhất; tỷ lệ sử dụng sữa thủy phân hoàn toàn tăng từ 6,8% lên 28,0%. Sau điều trị, số lần tiêu chảy giảm từ 6,10 ± 2,74 xuống 1,63 ± 0,77 lần/ngày; tỷ lệ phân nhầy giảm từ 71,2% xuống 8,3% và không còn máu trong phân. Kết quả cho thấy real-time PCR đa mồi giúp tăng khả năng phát hiện tác nhân so với cấy phân và ghi nhận cải thiện lâm sàng và xét nghiệm sau điều trị nội trú.
Trong nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca trên 35 bệnh nhân thiếu máu chi dưới mạn tính đe dọa chi được can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Thống Nhất từ 01/2025 đến 03/2025, chúng tôi ghi nhận creatinin huyết thanh và eGFR trong vòng 24 giờ trước thủ thuật và khoảng 24 giờ sau can thiệp có sử dụng iodixanol, đồng thời khảo sát bước đầu một số yếu tố liên quan với biến đổi chức năng thận sau thủ thuật. Kết quả cho thấy tỷ lệ tổn thương thận cấp sớm trong 24 giờ liên quan thuốc cản quang là 5,7%, trong khi tỷ lệ CA-AKI Moderate là 14,3%. Ở phân tích so sánh hai nhóm, nhóm có CA-AKI Moderate có eGFR nền thấp hơn nhóm không có biến cố nhưng mối liên quan này không đạt ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy Firth đơn biến. Nhìn chung, biến đổi chức năng thận sớm sau can thiệp nội mạch cần được lưu ý ở bệnh nhân CLTI được can thiệp nội mạch. Do cỡ mẫu nhỏ, số biến cố ít và thời gian theo dõi ngắn, các kết quả cần được diễn giải chủ yếu theo hướng mô tả và gợi ý giả thuyết.
Tiêm chủng vắc xin là biện pháp phòng bệnh đặc hiệu giúp cơ thể tạo miễn dịch chủ động nhân tạo phòng các bệnh truyền nhiễm. Nghiên cứu cắt ngang khảo sát trực tiếp trên 1195 sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên nhằm mô tả thực trạng tiêm vắc xin phòng một số bệnh truyền nhiễm của sinh viên y khoa giai đoạn 2022 - 2025. Kết quả cho thấy tỷ lệ tiêm rất cao với vắc xin COVID-19 (97,4%), các vắc xin khác có tỷ lệ tiêm thấp như Cúm, viêm gan B, HPV (dưới 30%). Đặc biệt tỉ lệ tiêm các vắc xin như Tả, Thương hàn, Phế cầu, Viêm gan A, Não mô cầu đều rất thấp (dưới 10%). Yếu tố liên quan đến tiêm chủng bao gồm đặc điểm cá nhân, yếu tố kinh tế xã hội và khả năng tiếp cận dịch vụ. Việc triển khai các chương trình tiêm chủng tích hợp trong trường học, kết hợp với tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe và chính sách hỗ trợ chi phí là cần thiết nhằm nâng cao tỷ lệ bao phủ vắc xin trong nhóm sinh viên y khoa