Tiểu từ tình thái tuy chiếm số lượng nhỏ trong lớp từ vựng tiếng Việt nhưng lại có một vai trò tương đối quan trọng và có tần xuất sử dụng cao trong giao tiếp. Thông qua một cuộc khảo sát đối với học viên nước ngoài đang học tiếng Việt tại Việt Nam, bài viết đưa ra một số đề xuất giảng dạy lớp tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt nhằm đạt hiệu quả cao.
Bài viết này phân tích hình ảnh trong lĩnh vực y học ở Việt Nam dựa trên Khung lí thuyết Ngữ pháp Chức năng hệ thống của Kress & van Leeuwen (1996) và Ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday (Halliday, 1985). Nhấn mạnh vào chức năng tái tạo, chức năng cấu tạo và chức năng tương tác tương ứng với siêu chức năng ý niệm, siêu chức năng văn bản và siêu chức năng liên nhân, bài viết làm rõ vai trò của các tham thể người và vật, vectors ẩn dụ hoặc không ẩn dụ cũng như các dấu hiệu về ngữ pháp cùng từ ngữ trong việc “giải mã” y học đồ họa trên nhiều phương diện và xã hội khác nhau.
Nghiên cứu này khảo sát tám hình ảnh trực quan trong một giáo trình y khoa theo khung phân tích hình ảnh của Kress và van Leeuwen (2006). Kết quả nghiên cứu chỉ ra vai trò quan trọng của hình ảnh như một nguồn lực tạo nghĩa. Vì vậy, nghiên cứu này hướng đến việc phân tích diễn ngôn đa phương thức hình ảnh trực quan của giáo trình y khoa và vai trò của chúng trong mục đích giáo dục.
Bài viết nhằm mục tiêu khảo sát việc sử dụng ngôn ngữ mang chức năng đánh giá “Thái độ” (Attitude) trong các bài báo bình luận kinh tế tiếng Anh và kinh tế tiếng Việt (BLKTTA và BLKTTV) trên nền tảng thuyết đánh giá của Martin và White (2005). Để tiến hành nghiên cứu, từ cách tiếp cận ngữ nghĩa diễn ngôn, phương pháp định tính và so sánh được sử dụng cùng với sự hỗ trợ của thông tin định lượng. Kết quả nghiên cứu được sử dụng cho việc đọc hiểu, dịch thuật và viết văn bản bình luận.
Nghiên cứu này mô tả các kiểu Tranh biện - tiểu hệ thống trong Ngôn ngữ Đánh giá - liên quan đến các hành động tu từ (rhetorical move) hay mục đích giao tiếp trong Phần mở đầu của bài báo khoa học. Mục đích là thiết lập sự hiểu biết sâu sắc hơn về cách các nhà văn đối thoại với độc giả bằng cách kiểm tra mối quan hệ giữa các hành động tu từ của Swales và ngôn ngữ Tranh biện.
Tìm hiểu và so sánh trật tự động từ và các thành phần ngữ nghĩa tùy chọn trong tiếng Hán và tiếng Việt. Trong bài viết này, tập trung làm rõ trật tự động từ và thành ngữ nghĩa không bắt buộc trong tiếng Hán và tiếng Việt.
Khảo sát, thu thập các ví dụ có sử dụng phó từ “常常” và “往往” để phân tích, so sánh tìm ra điểm tương đồng và dị biệt về chức năng ngữ pháp và đặc trưng ngữ giữa chúng. Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ sự tương đồng và khác biệt nhất định trên cả ba bình diện.
Cụm danh từ là một đơn vị ngữ pháp cơ bản trong câu, gồm danh từ trung tâm và các thành phần bổ ngữ xung quanh nó. Cấu tạo của cụm danh từ thay đổi đáng kể giữa các ngôn ngữ, phản ánh các nguyên tắc ngữ pháp và ngữ nghĩa đặc thù. Bài viết này tập trung mô tả cấu trúc cụm danh từ trong hai ngôn ngữ, tiếng Anh và tiếng Việt để từ đó rút ra những điểm tương đồng và khác biệt, nhằm hỗ trợ cho các nghiên cứu có liên quan và giảng dạy ngôn ngữ.
Bài viết này nghiên cứu tên gọi các nhân vật trong một số tác phẩm của A.S. Pushkin, N.V. Gogol, F.M. Dostoevsky,…; Phân tích ý nghĩa và mối quan hệ giữa tên gọi với hình tượng nhân vật nhằm làm rõ sự hấp dẫn của tu từ trong văn học Nga, cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về các tác phẩm kinh điển này.
Nghiên cứu tập trung vào ba khía cạnh chính: Xác định và phân loại các kiểu kết cấu trạng thái kết quả trong tiếng Việt; Phân tích các đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từng kiểu kết cấu; Tìm hiểu chức năng giao tiếp của chúng trong các ngữ cảnh khác nhau. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong tiếng Việt hiện, với ngữ liệu được thu thập từ các tác phẩm văn học tiêu biểu của Nam Cao.