CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Một số ý kiến về quy định pháp luật của sự kiện bất khả kháng trong thực tiễn xét xử hiện nay / Phạm Lê Kiều Duyên // Nghề luật .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 21-27 .- 340
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra làm cản trở việc thực hiện nghĩa vụ của một hoặc các bên. Nếu chủ thể vi phạm nghĩa vụ xuất phát từ sự kiện này thì có thể được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm. Chính vì vậy, việc xác định một sự kiện được xem là bất khả kháng có ý nghĩa rất quan trọng để xác định hậu quả pháp lý của các bên. Trong thực tiễn xét xử hiện nay, việc xác định một sự kiện được xem là bất khả kháng và đặc biệt là việc xử lý hậu quả pháp lý của sự kiện này vẫn còn nhiều bất cập. Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích những hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật về sự kiện bất khả kháng khi áp dụng vào thực tiễn xét xử và kiến nghị những giải pháp để hoàn thiện những hạn chế, vướng mắc này.
2 Một số vấn đề xây dựng pháp luật về an ninh, trật tự trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa / Ngô Thị Mai Linh // .- 2025 .- Số 6 .- Tr. 3-7 .- 340
Công tác xây dựng pháp luật về an ninh, trật tự trong thời gian qua luôn được quan tâm sửa đổi và hoàn thiện. Bài viết đã khái lược những kết quả đạt được trong công tác xây dựng pháp luật ở nước ta trong thời gian qua đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập về an ninh trật tự, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng pháp luật đảm bảo an ninh trật tự đáp ứng yêu cầu của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam trong thời gian tới.
3 Mô phỏng dược động học/dược lực học của pyrazinamid trên bệnh nhân lao phổi / Phan Tuấn Đức, Bùi Sơn Nhật, Lê Thị Luyến // Khoa học và công nghệ Việt Nam .- 2025 .- Số 2B .- Tr. 68 - 73 .- 610
Giới thiệu: Pyrazinamid (PZA) có vai trò lớn trong phác đồ chống lao, cần được tối ưu hóa cách sử dụng. Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định khả năng đạt được các đích dược động học/dược lực học (PK/PD) của PZA trong điều trị lao phổi. Phương pháp: 516 mẫu máu của 129 bệnh nhân lao phổi không đa kháng thuốc được thu thập nhằm ghi nhận dữ liệu nồng độ - thời gian của PZA, từ đó xây dựng mô hình dược động học quần thể và mô phỏng Monte Carlo để xác định tỷ lệ đạt các đích PK/PD tại các chế độ liều dựa trên thể trọng và cân nặng trừ mỡ (FFM). Kết quả: Tỷ lệ đạt các đích PK/PD tăng dần khi tăng liều. Với MIC≥50 μg/ml, cần liều 40 mg/kg để trên 80% bệnh nhân đạt đích diện tích dưới đường cong/nồng độ ức chế tối thiểu (AUC/MIC); với liều 30 mg/kg hoặc 35 mg/kg, FFM >90% bệnh nhân đạt đích AUC0-24 và Cmax. Liều dựa trên FFM cho thấy hiệu quả tương tự so với các chế độ dựa trên thể trọng hiện nay. Kết luận: Các chế độ liều tính theo FFM cải thiện tỷ lệ các đích PK/PD của PZA.
4 Bước đầu nhận xét đặc điểm mô dây thần kinh đồng loài bảo quản lạnh sâu tại Ngân hàng Mô, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / // Khoa học và công nghệ Việt Nam .- 2025 .- Số 2B .- Tr. .61 - 67 .- 610
Mô dây thần kinh đồng loài bảo quản lạnh sâu đang được nghiên cứu và sử dụng trong ghép tái tạo dây thần kinh bị tổn thương, khắc phục những hạn chế của mô ghép tự thân. Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm thu hồi, xử lý, bảo quản, phân phối mô dây thần kinh đồng loài bảo quản lạnh sâu tại Ngân hàng Mô, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, tiến cứu. Kết quả cho thấy, 32 mô dây thần kinh được thu nhận từ 8 người hiến chết não có độ tuổi trung bình là 34±13 (từ 16 đến 50 tuổi). 100% người hiến mô dây thần kinh đều âm tính với HIV, HBV, HCV. 32/32 (100%) mô dây thần kinh thu nhận có màu sắc trắng ngà và nguyên vẹn, không bị biến sắc hay tưa rách, đứt đoạn. Trong đó, có 16 mô (50%) là dây thần kinh hiển với chiều dài từ 210 đến 320 mm và 16 mô (50%) là thần kinh chày với chiều dài từ 100 đến 380 mm. Tất cả mô dây thần kinh có kết quả nuôi cấy vi sinh âm tính. Ba mô dây thần kinh được ghép cho bệnh nhân có cấu trúc sợi bình thường, chưa thoái hóa sau rã đông.
5 Kết quả kiểm soát các yếu tố nguy cơ và chỉ số khối cơ thể ở người có nguy cơ tim mạch cao bằng giải pháp y tế từ xa (telemedicine) / // .- 2025 .- Số 2B .- Tr. 74 - 80 .- 610
Các chiến lược y tế từ xa đã được áp dụng trên thế giới để hỗ trợ nhóm người có nguy cơ tim mạch cao, nhưng hiệu quả của những can thiệp này trong việc cải thiện nguy cơ tim mạch ở các bệnh nhân tại Việt Nam vẫn chưa rõ ràng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả kiểm soát yếu tố nguy cơ tim mạch và chỉ số khối cơ thể ở người có nguy cơ cao bằng giải pháp y tế từ xa. 112 bệnh nhân được chia hai nhóm: Nhóm can thiệp nhận một buổi tư vấn ban đầu và được hỗ trợ qua điện thoại trong ba tháng; nhóm chứng chỉ nhận một buổi tư vấn. Kết quả cho thấy, tuổi trung bình 56,8±6,8, 69% là nữ. Các chỉ số về cân nặng (-1,232 kg; p<0,001), chu vi vòng eo (-0,789 cm; p=0,02), chỉ số khối cơ thể (-0,398 kg/m2; p<0,001), huyết áp tâm trương (-1,233 mmHg; p=0,03), cholesterol toàn phần (-0,196 mmol/l; p=0,02) và lipoprotein trọng lượng phân tử thấp (LDL) cholesterol (-0,165 mmol/l; p=0,005) ở nhóm can thiệp đều giảm hơn nhóm chứng sau 12 tháng. Như vậy, ở những người lớn tuổi có nguy cơ tim mạch cao, giải pháp y tế từ xa với hỗ trợ qua điện thoại trong vòng 3 tháng đã mang lại những cải thiện về các yếu tố nguy cơ tim mạch. Những cải thiện này kéo dài sau một năm, cho thấy y tế từ xa có hiệu quả trong việc kiểm soát nguy cơ tim mạch.
6 Kiểm soát bệnh truyền nhiễm liên quan đến dơi tại Việt Nam trên cơ sở tiếp cận một sức khoẻ / Vương Tân Tú // Khoa học và công nghệ Việt Nam .- 2025 .- Số 2A .- Tr. 62 - 64 .- 610
Trong một nghiên cứu mới đăng trên Tạp chí Molecular Ecology [1], các nhà khoa học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các cộng sự thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hungary và Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử Tự nhiên, Cộng hoà Pháp đã công bố những phát hiện mới về sự đa dạng và quá trình phát sinh chủng loại của các chủng virus corona thuộc phân chi Sarbecovirus thu thập từ các quần thể dơi móng ngựa (Rhinolophus sp.) ở Việt Nam và các nước lân cận. Các dữ liệu khoa học này giúp chúng ta hiểu thêm về nguồn gốc phát sinh của hai chủng virus corona gây ra hai đại dịch (SARS-CoV-1 và SARS-CoV-2), đồng thời cung cấp cơ sở cho việc xây dựng và triển khai các hoạt động giám sát, phòng ngừa sự bùng phát hoặc tái bùng phát các dịch bệnh do virus corona liên quan đến dơi trong tương lai.
7 Giao thông tương lai : mô hình và giải pháp cho phát triển đô thị hiện đại / Ninh Khôi Nguyên // Khoa học và công nghệ Việt Nam .- 2025 .- Số 2A .- Tr. 41 - 43 .- 624
Thông qua việc thực hiện thành công nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) theo Nghị định thư “Giao thông tương lai: Mô hình và giải pháp cho phát triển đô thị hiện đại”, mã số NĐT/DE/21/30, TS Lê Thu Huyền và các cộng sự thuộc Trường Đại học Giao thông Vận tải (GTVT) đã xây dựng và phát triển thành công mô hình đánh giá hệ thống giao thông đô thị bền vững cho các đô thị điển hình ở Việt Nam, phục vụ phát triển giao thông đô thị bền vững trong tương lai.
8 Chế phẩm probiotic an toàn dùng cho người / Nguyễn La Anh, Đặng Thu Hương // Khoa học và công nghệ Việt Nam .- 2025 .- Số 2A .- Tr. 38 - 40 .- 610
Dưới sự hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) thông qua đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu đặc điểm kháng kháng sinh nội tại của các chủng Lactobacillus để tạo chế phẩm probiotic an toàn dùng cho người”, mã số ĐTĐL.CN-59/19 thuộc Chương trình phát triển khoa học cơ bản trong lĩnh vực hóa học, khoa học sự sống, khoa học trái đất và khoa học biển giai đoạn 2017-2025, các nhà khoa học của Viện Công nghiệp Thực phẩm (Bộ Công Thương) đã lựa chọn được 4 chủng có tiềm năng và an toàn nhất để sản xuất chế phẩm probiotic; đồng thời xây dựng công nghệ sản xuất chế phẩm probiotic với mật độ tế bào sống cao (1010CFU/g), ổn định và tạo được chế phẩm probiotic an toàn dùng cho người, với mật độ trên 109CFU/lọ, tỷ lệ sống trên 90% sau 12 tháng bảo quản.
9 Đổi mới sáng tạo : nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số ngành ngân hàng / Nguyễn Trung Anh // Khoa học và công nghệ Việt Nam .- 2025 .- Số 2A .- Tr. 32 - 34 .- 332.04
Đổi mới sáng tạo (ĐMST) thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số (CĐS), làm cho hoạt động ngân hàng nhanh, đáng tin cậy và thân thiện hơn với khách hàng. ĐMST giúp các ngân hàng giảm chi phí, thích ứng với nhu cầu mới của thị trường và cung cấp dịch vụ tốt hơn trong khi vẫn tuân thủ các quy định ngày càng chặt chẽ của các cơ quan quản lý. Quan trọng hơn, ĐMST thúc đẩy văn hóa cải tiến liên tục, cho phép các ngân hàng duy trì khả năng cạnh tranh trong thế giới số thay đổi nhanh chóng. ĐMST không chỉ là công cụ cải tiến mà còn là chìa khóa thành công trong tương lai của ngành ngân hàng.
10 Thách thức và chiến lược đổi mới sáng tạo trong nghiên cứu, phát triển và sản xuất vắc-xin tại Việt Nam / Đỗ Tuấn Đạt // .- 2025 .- Tr. 19 - 23 .- 615.10711
Việt Nam là quốc gia có khả năng sản xuất các loại vắc-xin để tự cung cấp cho Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR). Tuy nhiên, các nhà sản xuất trong nước hiện chưa có đủ năng lực để đảm đương toàn bộ chuỗi giá trị của vắc-xin, đặc biệt là việc tiếp cận với các công nghệ mới và tiên tiến. Giống như nhiều quốc gia có thu nhập trung bình và thấp, Việt Nam đã phải đối mặt với các thách thức chạy đua về mặt thời gian và đảm bảo đủ nguồn cung cấp các vắc-xin cần thiết trong phòng chống đại dịch COVID-19. Chính phủ hiện cũng đã xây dựng các kế hoạch đến năm 2030, sớm đưa thêm các vắc-xin mới như vắc-xin phòng ung thư cổ tử cung (HPV), phế cầu (PCV), Rota và cúm mùa vào Chương trình TCMR. Điều này thúc đẩy các nhà sản xuất vắc-xin tại Việt Nam cần sớm xây dựng các chiến lược đổi mới sáng tạo để tiếp cận các công nghệ mới và tiên tiến trong nghiên cứu, phát triển và sản xuất vắc-xin. Đây cũng chính là điều kiện để giúp Việt Nam tiếp tục tự đảm bảo được nguồn cung vắc-xin và tăng cường năng lực để đối phó với các đại dịch mới trong trong tương lai.