CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Hóa mô miễn dịch

  • Duyệt theo:
1 Ảnh hưởng của thời gian thiếu máu lạnh lên sự biểu hiện của các dấu ấn ER, PR và KI-67 trong ung thư vú bằng kỹ thuật nhuộm hoá mô miễn dịch / Nguyễn Ngọc Lâm, Hà Phạm Yến Vy, Lưu Đức Tùng, Dương Ngọc Thiên Hương, Đoàn Thị Phương Thảo // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 272 - 276 .- 610

Đánh giá tác động của thời gian thiếu máu lạnh đến biểu hiện ER, PR và Ki-67 trong ung thư vú bằng kỹ thuật HMMD. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thăm dò, thực hiện trên các mẫu mô ung thư vú được chọn có chủ đích theo tiêu chuẩn lựa chọn. Các mẫu mô được chia nhỏ ~3 mm và để ở các khoảng thời gian thiếu máu lạnh từ < 1 giờ đến 8 giờ trước khi cố định trong formol đệm trung tính 10% (pH 7.0). Sau khi cố định từ 8 – 32 giờ và xử lý mô, cắt mỏng 3–4 μm, các tiêu bản được nhuộm HMMD với ER, PR và Ki- 67. Cường độ nhuộm nhân, tỷ lệ tế bào bắt màu và tỷ lệ nhân tế bào thoái hoá được phân tích nhằm đánh giá ảnh hưởng của sự trì hoãn cố định. Kết quả: Đối với ER, cường độ bắt màu trung bình bắt đầu giảm tại 2 giờ, tỷ lệ bắt màu trung bình bắt đầu giảm tại 3 giờ, tỷ lệ nhân tế bào thoái hoá trung bình bắt đầu tăng tại 2 giờ. Đối với PR, cường độ bắt màu trung bình bắt đầu giảm tại 2 giờ, tỷ lệ bắt màu trung bình bắt đầu giảm tại 3 giờ, tỷ lệ nhân tế bào thoái hoá trung bình bắt đầu tăng tại 2 giờ nhưng tại 4 giờ có giảm nhẹ và tăng lại tại 6 giờ. Đối với Ki-67, tỷ lệ nhân tế bào thoái hoá trung bình bắt đầu tăng tại 2 giờ, riêng tỷ lệ bắt màu có sự thay đổi không đáng kể. Kết luận: Thời gian thiếu máu lạnh kéo dài làm giảm cường độ và tỷ lệ bắt màu của ER, PR, đồng thời tăng tỷ lệ nhân thoái hóa của ER, PR và Ki-67. Mặc dù Ki-67 ít bị ảnh hưởng về tỷ lệ bắt màu, xu hướng giảm chất lượng nhân cho thấy cần kiểm soát chặt chẽ tiền phân tích. Sai lệch tiền phân tích làm tăng nguy cơ under/over-call ER/PR, phân nhóm Luminal sai và quyết định nội tiết/hóa trị không phù hợp. Kết quả khẳng định mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian thiếu máu lạnh và sự suy giảm biểu hiện ER, PR, nhấn mạnh yêu cầu tuân thủ khuyến cáo ASCO/CAP: cố định mẫu trong vòng ≤1 giờ sau khi lấy để duy trì độ tin cậy của xét nghiệm HMMD.

2 Nghiên cứu đặc điểm hoá mô miễn dịch của EGFR và các dấu ấn CK, p63, Vimentin trong ung thư biểu mô vú dị sản tại Bệnh viện K / Diệp Quốc Dũng, Bùi Thị Mỹ Hạnh, Đinh Hữu Tâm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- .- 610

Xác định tỷ lệ bộc lộ CK, p63, Vimentin, EGFR trong ung thư biểu mô vú dị sản (2) Đối chiếu tỷ lệ bộc lộ EGFR với một số đặc điểm giải phẫu bệnh của ung thư biểu mô vú dị sản. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 77 bệnh nhân Ung thư biểu mô vú dị sản, đã được phẫu thuật điều trị cắt vú tại bệnh viện K từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 8 năm 2023. Kết quả: Tỷ lệ dương tính CK trong ung thư biểu mô (UTBM) vú dị sản là 94,8% (73/77) trong đó UTBM tế bào hình thoi và UTBM dạng xơ dương tính với tỷ lệ là 100%. Tỷ lệ dương tính p63 là 70,1% (50/77), trong đó UTBM tế bào hình thoi dương tính với tỷ lệ 75% (3/4). Vimentin bộc lộ 59,7% (46/77) trong UTBM vú dị sản. Tỷ lệ EGFR dương tính trong UTBM vú dị sản là 70,1% (52/77), trong đó UTBM tế bào vảy có tỷ lệ dương tính là 82,4%; UTBM tế bào hình thoi có tỷ lệ dương tính EGFR thấp nhất là 50%. Tỷ lệ dương tính EGFR cao hơn ở nhóm có xâm nhập mạch, di căn hạch và xâm nhập quanh thần kinh; tuy nhiên giá trị này không có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Ung thư biểu mô dị sản là nhóm u có sự đa dạng về hình thái; kết hợp dấu ấn CK, p63 trong các trường hợp u tế bào hình thoi không có biệt hoá biểu mô mang lại nhiều giá trị chẩn đoán. EGFR dương tính khá cao trong UTBM vú dị sản hứa hẹn mở ra phương pháp điều trị đích và tiên lượng bệnh.