CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Hạ natri máu
1 Khảo sát các yếu tố nguy cơ hạ natri máu trong thời gian xạ trị bệnh nhân ung thư đầu cổ tại khoa Xạ trị đầu cổ, tai mũi họng, hàm mặt / Nguyễn Châu Hiệu, Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Thị Vân Khanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 528 - 541 .- 610
rị triệt để hoặc hóa xạ trị đồng thời với Cisplatin. - Đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng hạ natri máu trong điều trị BN ung thư đầu cổ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng: Bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ được chỉ định xạ triệt để hoặc hóa xạ đồng thời triệt để, đang điều trị tại Khoa Xạ trị đầu cổ, tai mũi họng, hàm mặt, Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh (Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM). Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2024 đến hết 01/09/2024. Địa điểm: Khoa Xạ trị đầu cổ, tai mũi họng, hàm mặt, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu. Kết quả: Nghiên cứu đã thu nhận 229 bệnh nhân mắc các loại ung thư vùng đầu và cổ, với độ tuổi trung bình 56. Trong đó, 76% là nam và 24% là nữ. Tỷ lệ bệnh nhân bị hạ natri máu trong quá trình điều trị tăng dần từ tuần 1 (3,5%) đến tuần 7 (33,2%). Hạ natri máu ở mức độ nhẹ chiếm phần lớn, trong khi hạ natri máu độ 3 (nặng) chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng có liên quan đến các triệu chứng nghiêm trọng về thần kinh như co giật và yếu cơ. Các yếu tố như ung thư vòm hầu, hạ hầu, thanh quản và việc sử dụng Cisplatin có liên quan chặt chẽ đến tình trạng hạ natri máu. Ung thư khẩu hầu, hốc miệng, vòm hầu và hạ hầu - thanh quản có tỷ lệ hạ natri máu lần lượt là 27%, 21%, 18% và 11.7%. Có 44,2% bệnh nhân phải nhập viện do hạ natri máu, trong đó hạ natri máu độ 1, độ 2, độ 3 có tỷ lệ lần lượt là:9,1%; 2,2%; 5,2%. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hạ natri máu ở bệnh nhân điều trị ung thư đầu cổ là đáng kể, đặc biệt là ở những tuần điều trị sau và ở các bệnh nhân điều trị bằng Cisplatin. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi nồng độ natri trong suốt quá trình điều trị để phát hiện sớm và can thiệp kịp thời sẽ giúp giảm thiểu các biến chứng liên quan và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.





