CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Chất lượng cuộc sống
1 Cải thiện chức năng vận động và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối giai đoạn II-III sau điều trị bằng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân / Nguyễn Thế Điệp, Bùi Thị Minh Phượng, Vũ Văn Tú // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 109 - 113 .- 610
Thoái hóa khớp gối là một bệnh lý mạn tính gây tổn thương sụn, xương dưới sụn và viêm màng hoạt dịch khớp gối. Người bệnh không được điều trị kịp thời dẫn đến đau, hạn chế vận động khớp gối làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) tự thân có nhiều ưu điểm, ít tác dụng phụ, an toàn và cơ chế tập trung vào việc tái tạo và phục hồi mô tổn thương. Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm làm rõ hiệu quả của PRP tự thân trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống (CLCS), giảm đau và phục hồi chức năng khớp gối. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành trên 34 bệnh nhân thoái hóa khớp gối (THKG) nguyên phát giai đoạn II và III, được phân loại theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Kellgren-Lawrence. Những bệnh nhân này được điều trị bằng PRP tại Bệnh viện Đại học Thái Bình từ tháng 1 năm 2023 đến tháng 7 năm 2024. Hiệu quả điều trị được đánh giá bằng cách so sánh những thay đổi trước và sau khi điều trị PRP tại 3 thời điểm, sử dụng thang điểm VAS, WOMAC và bộ câu hỏi SF 36. Kết quả: Trong số 34 bệnh nhân, phần lớn bệnh nhân trên 60 tuổi có CLCS cao sau điều trị lần 3 (55,9% và 80,1 ± 11,3), không có bệnh nhân có CLCS kém. Tầm vận động của khớp gối tăng từ 110° lên 130° (p<0,05). Điểm VAS trung bình phân theo giai đoạn bệnh là 6,5 cho Giai đoạn II và 4,8 cho Giai đoạn III (p<0,05). Kết luận: Nghiên cứu hiện tại đã quan sát thấy sự cải thiện về CLCS, giảm đau và cải thiện chức năng khớp gối sau điều trị bằng PRP.
2 Đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp tâm lý của người bệnh nữ ung thư sinh dục theo thang đo EORTC-QLQ30 tại Bệnh viện K Trung ương năm 2020 – 2021 / Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Đức Khoa, Nguyễn Thị Lụa, Nguyễn Văn Khải, Phạm Minh Khuê // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 603-609 .- 610
Đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp tâm lý của người bệnh nữ ung thư sinh dục theo thang đo EORTC-QLQ30 tại Bệnh viện K Trung ương năm 2020 - 2021. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp hỗ trợ tâm lý trên 350 bệnh nhân nữ ung thư sinh dục tham gia nghiên cứu ít nhất 06 tháng từ 3/2021 - 12/2021, sử dụng thang đo EORTCQLQ30 để đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp. Kết quả: Điểm trung bình CLCS tăng từ 60,8 ± 18,4 trước can thiệp lên 72,7 ± 16,5 sau can thiệp (p < 0,05); chỉ số chức năng “Hoạt động” (trước can thiệp: 69 ± 26,3; sau can thiệp: 81 ± 21), và chỉ số “Triệu chứng” (trước can thiệp: 23,4 ± 21; sau can thiệp: 18,2 ± 17,7) được cải thiện rõ ràng nhất. Giai đoạn bệnh và chẩn đoán bệnh có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Kết luận: Hiệu quả của can thiệp hỗ trợ tâm lý cải thiện CLCS trên bệnh nhân ung thư sinh dục là cơ sở để triển khai các hoạt động can thiệp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và tâm lý cho bệnh nhân.
3 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua ngã tiền đình miệng / Trần Minh Tuấn, Hà Hiếu Trung // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 590 - 594 .- 610
Nghiên cứu này nhằm đánh giá biến chứng phẫu thuật, kết quả thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tuyến giáp được phẫu thuật nội soi qua ngã tiền đình miệng (TOETVA). Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiền cứu 50 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa được phẫu thuật cắt thùy giáp tháng 10/2023 đến tháng 9/2024 tại Khoa Điều trị tổng hợp, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng bảng câu hỏi SF-36 tại thời điểm 1, 2 và 3 tháng sau mổ. Kết quả: Tất cả đều là bệnh nhân nữ với độ tuổi trung bình là 29,7 ± 8,5. Chỉ có 3 bệnh nhân (6%) bị khàn tiếng và 1 bệnh nhân (2%) tê bì cằm môi dưới tạm thời. Mức độ thẩm mỹ và hài lòng của bệnh nhân tại thời điểm 1 tháng lần lượt là 4,7 và 4,8/5 điểm. Các lĩnh vực về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đều cải thiện đáng kể qua thời gian. Sức khỏe tinh thần là yếu tố bị ảnh hưởng nhiều nhất. Kết luận: Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường miệng rất ít biến chứng, thẩm mỹ cao và chất lượng cuộc sống tốt. Đây là một lựa chọn điều trị tốt cho bệnh nhân cắt thùy giáp, đặc biệt là phụ nữ trẻ.





