CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Chất lượng cuộc sống
1 Đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp tâm lý của người bệnh nữ ung thư sinh dục theo thang đo EORTC-QLQ30 tại Bệnh viện K Trung ương năm 2020 – 2021 / Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Đức Khoa, Nguyễn Thị Lụa, Nguyễn Văn Khải, Phạm Minh Khuê // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 603-609 .- 610
Đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp tâm lý của người bệnh nữ ung thư sinh dục theo thang đo EORTC-QLQ30 tại Bệnh viện K Trung ương năm 2020 - 2021. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp hỗ trợ tâm lý trên 350 bệnh nhân nữ ung thư sinh dục tham gia nghiên cứu ít nhất 06 tháng từ 3/2021 - 12/2021, sử dụng thang đo EORTCQLQ30 để đánh giá chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp. Kết quả: Điểm trung bình CLCS tăng từ 60,8 ± 18,4 trước can thiệp lên 72,7 ± 16,5 sau can thiệp (p < 0,05); chỉ số chức năng “Hoạt động” (trước can thiệp: 69 ± 26,3; sau can thiệp: 81 ± 21), và chỉ số “Triệu chứng” (trước can thiệp: 23,4 ± 21; sau can thiệp: 18,2 ± 17,7) được cải thiện rõ ràng nhất. Giai đoạn bệnh và chẩn đoán bệnh có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Kết luận: Hiệu quả của can thiệp hỗ trợ tâm lý cải thiện CLCS trên bệnh nhân ung thư sinh dục là cơ sở để triển khai các hoạt động can thiệp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và tâm lý cho bệnh nhân.
2 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua ngã tiền đình miệng / Trần Minh Tuấn, Hà Hiếu Trung // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 590 - 594 .- 610
Nghiên cứu này nhằm đánh giá biến chứng phẫu thuật, kết quả thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tuyến giáp được phẫu thuật nội soi qua ngã tiền đình miệng (TOETVA). Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiền cứu 50 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa được phẫu thuật cắt thùy giáp tháng 10/2023 đến tháng 9/2024 tại Khoa Điều trị tổng hợp, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng bảng câu hỏi SF-36 tại thời điểm 1, 2 và 3 tháng sau mổ. Kết quả: Tất cả đều là bệnh nhân nữ với độ tuổi trung bình là 29,7 ± 8,5. Chỉ có 3 bệnh nhân (6%) bị khàn tiếng và 1 bệnh nhân (2%) tê bì cằm môi dưới tạm thời. Mức độ thẩm mỹ và hài lòng của bệnh nhân tại thời điểm 1 tháng lần lượt là 4,7 và 4,8/5 điểm. Các lĩnh vực về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đều cải thiện đáng kể qua thời gian. Sức khỏe tinh thần là yếu tố bị ảnh hưởng nhiều nhất. Kết luận: Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường miệng rất ít biến chứng, thẩm mỹ cao và chất lượng cuộc sống tốt. Đây là một lựa chọn điều trị tốt cho bệnh nhân cắt thùy giáp, đặc biệt là phụ nữ trẻ.





