CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Bệnh nhân ung thư

  • Duyệt theo:
1 Giá trị của chỉ số tiên lượng giảm nhẹ trong dự đoán thời gian sống thêm bệnh nhân ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An / Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Công, Tô Thị Linh, Vi Anh Tuấn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 638 - 648 .- 610

Mô tả một số đặc điểm chung của bệnh nhân ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An và đánh giá giá trị của chỉ số tiên lượng giảm nhẹ (PPI) trong dự đoán thời gian sống thêm ở nhóm đối tượng nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang theo dõi tiến cứu trên 136 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2024 tại Khoa Điều trị Giảm nhẹ - Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An. Công cụ sử dụng là chỉ số tiên lượng giảm nhẹ PPI. Kết quả: Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 63,7 (25 - 95), tỉ lệ nam/nữ: 3,12/1. Ung thư phổi chiếm tỉ lệ cao nhất 30,1%. Phần lớn bệnh nhân mắc ung thư giai đoạn 4 (79,4%). 77,9% bệnh nhân đã tử vong. Trung vị thời gian sống thêm ở nhóm PPI ≤ 4 là 92 ngày, nhóm 4 < PPI ≤ 6 là 50 ngày và nhóm PPI > 6 là 21 ngày. 55,8% và 86,5% bệnh nhân có chỉ số PPI > 6 tử vong trong 3 tuần và 6 tuần. Tương ứng ở nhóm PPI ≤ 4 là 24,1% và 37,9%. PPI > 6 tiên lượng thời gian sống thêm dưới 3 tuần với giá trị tiên lượng dương tính (PPV) là 69% và giá trị tiên lượng âm tính (NPV) là 64% với độ nhạy 56%, độ đặc hiệu 76%. PPI > 4 tiên lượng khả năng sống sót dưới 6 tuần với PPV là 74% và NPV là 62% với độ nhạy 84%, độ đặc hiệu 53%. PPI < 5,5 dự đoán tốt nhất về khả năng sống sót sau 6 tuần với độ nhạy 75,0% và độ đặc hiệu 76,3% với AUC = 0,759. PPI ≥ 6,25 dự đoán tốt nhất về khả năng tử vong trong 3 tuần với độ nhạy 69,0% và độ đặc hiệu 64,1% với AUC = 0,667. Kết luận: Chỉ số tiên lượng giảm nhẹ (PPI) có giá trị trong việc dự đoán thời gian sống thêm của bệnh nhân ung thư được điều trị chăm sóc giảm nhẹ đơn thuần và có thể được sử dụng để hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong việc tư vấn chăm sóc giảm nhẹ.

2 Kiến thức, thái độ và thực hành dựa vào bằng chứng của điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh ung thư / Đào Hoàng Thanh Lan, Đặng Trần Ngọc Thanh, Phạm Minh Thanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 617 - 623 .- 610

Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành dựa vào bằng chứng trong chăm sóc của điều dưỡng Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 194 Điều dưỡng viên đang công tác tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/2022 đến 5/2022. Sử dụng bộ câu hỏi để thu thập số liệu. Thống kê mô tả và thông kê phân tích: T -test, ANOVA, Pearson, Spearman. Kết quả: Điểm kiến thức của điều dưỡng về THDVBC là 5,12 (± 0,95), kế đến là THDVBC (4,90 ± 0,99) và thái độ (4,80 ± 0,95). Có mối tương quan giữa THDVBC với văn bằng chuyên môn cao nhất (rho = 0,14, p = 0,03) và kiến thức (r = 0,64, p < 0,05) và thái độ (r = 0,43, p < 0,05). Không có sự khác biệt giữa THDVBC với tuổi, giới tính, kinh nghiệm trong công việc, tình trạng hôn nhân (p > 0,05). Kết luận: Kiến thức, thái độ và thực hành dựa vào bằng chứng của Điều dưỡng tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh ở mức tích cực. Các nhà quản lý bệnh viện nên tạo môi trường hỗ trợ và hướng dẫn một cách có hệ thống các chiến lược thực hành cho các điều dưỡng, bằng cách mở các khoa tập huấn cho điều dưỡng về THDVBC và đánh giá lại khóa tập huấn.

3 Đánh giá hiệu quả dự phòng viêm tĩnh mạch ngoại vi do hóa trị ở bệnh nhân ung thư bằng phương pháp dùng miếng gel lạnh / Nguyễn Hữu Thiện, Vũ Huy Bôn, Trần Thị Nhật Lệ, Hồ Thị Thanh Dung, Nghiêm Thị Minh Châu, Phạm Khánh Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 610 - 616 .- 610

Viêm tĩnh mạch do hóa trị (CIP) là một tác dụng không mong muốn của hóa trị. Dự phòng nhằm giảm viêm tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư sau hóa trị là rất quan trọng. Mục đích: Đánh giá tác dụng của việc dùng miếng gel lạnh dự phòng CIP do hóa trị ở bệnh nhân ung thư. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trên 60 bệnh nhân được chia thành 2 nhóm có và không dùng gel lạnh trong khi truyền hóa chất. Kết quả: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ viêm tĩnh mạch do hóa trị (p < 0,01). Kết luận: Sử dụng miếng gel lạnh có tác dụng phòng ngừa viêm tĩnh mạch do hóa trị.