CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Ung thư

  • Duyệt theo:
1 Rối loạn nuốt sau phẫu thuật ung thư vùng họng – miệng : liên quan giữa khuyết hổng phẫu thuật và các đặc điểm trên nội soi ống mềm đánh giá nuốt / Nguyễn Thị Hồng Loan, Võ Tấn Đức, Lý Xuân Quang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 72 - 77 .- 610

Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm khuyết hổng phẫu thuật và RLN trên FEES ở 89 bệnh nhân ung thư khoang miệng và hầu họng 1 tháng sau phẫu thuật, từ đó phân tích mối liên quan giữa hai yếu tố này. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 89 bệnh nhân ung thư khoang miệng và họng miệng sau phẫu thuật 1 tháng. Các đặc điểm khuyết hổng phẫu thuật được ghi nhận. RLN được đánh giá bằng FEES. Các tiêu chí đánh giá trên FEES bao gồm xâm nhập – hít sặc khi nuốt; tồn đọng ở họng miệng và hạ họng sau nuốt. Phân tích thống kê Mann-Whitney U và Kruskal-Wallis H được sử dụng để so sánh các nhóm. Kết quả: Nghiên cứu bao gồm 89 bệnh nhân (80.9% nam, tuổi trung bình 53.84 ± 12.291). Khuyết hổng cơ trên móng (52.8%) và khuyết hổng lưỡi (39.3% là cắt bán phần lưỡi) là những tổn thương phổ biến. Xâm nhập – hít sặc khi nuốt chủ yếu xảy ra với dung dịch lỏng (tỷ lệ hít sặc 10.1%), trong khi tồn đọng sau nuốt phổ biến hơn với dung dịch đặc vừa và rất đặc. Phân tích cho thấy tồn tại mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhiều khuyết hổng phẫu thuật (cơ trên móng, cơ xiết họng, đáy lưỡi, lưỡi di động, khẩu cái mềm) và mức độ rối loạn nuốt trên FEES. Kết luận: Đặc điểm khuyết hổng phẫu thuật là một yếu tố tiên lượng quan trọng đối với rối loạn nuốt hậu phẫu ở bệnh nhân ung thư vùng họng – miệng. Những phát hiện này cung cấp cơ sở cho việc tư vấn và can thiệp phục hồi chức năng nuốt sớm và cá thể hóa.

2 Thực trạng lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung bướu điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025 / Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Trung Nghĩa, Huỳnh Thanh Tân, Nguyễn Văn Giáp, Đỗ Văn Đức, Bạch Thị Thu Phương, Doãn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Cẩm Vân, Trịnh Thị Bích Huyền, Lê Bạch Mai // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 150 - 154 .- 610

Đánh giá thực trạng lo âu của người bệnh ung bướu điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2025 và xác định một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được triển khai từ tháng 1/2025 đến tháng 7/2025 với 150 người bệnh ung bướu điều trị ngoại trú, sử dụng thang đo DASS-21 để đánh giá tình trạng lo âu. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh gặp các vấn đề về lo âu là 31,33%. Kết quả hồi quy logistic đơn biến cho thấy các yếu tố làm tăng khả năng lo âu gồm: người bệnh nữ (OR=2,91); sống ở thành thị (OR=2,79); trình độ học vấn từ trung cấp trở lên (OR=2,84); đang làm việc toàn thời gian (OR=2,52); không được tư vấn tâm lý đầy đủ sau khi được điều trị và về nhà (OR=2,94); có bệnh kèm theo (OR=3,05); điều trị bằng hóa trị liệu pháp (OR=2,1); gặp tác dụng phụ khi điều trị (OR=2,57). Kết luận: Bệnh viện cần tăng cường các hình thức tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho người bệnh, đặc biệt trong quá trình người bệnh điều trị ở nhà hoặc trong các lần tái khám.

3 Khảo sát nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất tại khoa Ung Bướu Bệnh viện Đà Nẵng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan / Lê Quốc Tuấn, Võ Lê Uyên, Trần Thụy Diệu Thùy // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 649 - 659 .- 610

Khảo sát nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất tại khoa Ung Bướu Bệnh viện Đà Nẵng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 người bệnh ung thư đang điều trị nội trú sử dụng hóa chất gây độc tế bào tại Khoa Ung Bướu – Bệnh viện Đà Nẵng từ tháng 02/2023 đến tháng 8/2023. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 58,5 ± 10,3, tỷ lệ nam/nữ là 1,38. Có đến 68,7% người bệnh sức khỏe còn khá tốt (với chỉ số hoạt động Karnofsky 80 - 100 điểm). Chiếm đa số là giai đoạn IV (di căn và tái phát) (58,7%). Ph ần lớn điều trị hóa chất đường tiêm truyền chiếm tỷ lệ 84,7%. Hầu hết người bệnh có vấn đề sức khỏe (93,3%) và 78,7% có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ. Điểm trung bình vấn đề sức khỏe chung là 54 ± 16,1, lớn hơn điểm trung bình nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ chung là 46,3 ± 17,2 và có mối tương quan thuận chặt chẽ với hệ số tương quan r là 0,907, có ý nghĩa thống kê. Những yếu tố liên quan ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến vấn đề sức khỏe và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ chung của người bệnh ung thư đang điều trị hóa chất là giới tính, đặc điểm tài chính, tình trạng lao động, nhóm chỉ số Karnofsky, đường dùng thuốc. Kết luận: Hầu hết người bệnh tham gia nghiên cứu đều có vấn đề sức khỏe (93,3%) và phần lớn đều có nhu cầu cần nhân viên y tế quan tâm chăm sóc giảm nhẹ (78,7%). Việc đánh giá các vấn đề sức khỏe và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư (có tương quan thuận chặt chẽ có ý nghĩa với hệ số r là 0,907) sẽ giúp nhóm chăm sóc đưa ra các can thiệp và quản lý các vấn đề cũng như đáp ứng những nhu cầu cụ thể của người bệnh qua đó cung cấp dịch vụ chăm sóc toàn diện và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.