CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Loét dạ dày tá tràng
1 Hiệu quả điều trị loét tá tràng có nhiễm helicobacter pylori ở trẻ em bằng phác đồ 4 thuốc có bismuth tại Bệnh viện Nhi Thái Bình / Vũ Thị Thơm, Phí Thị Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Việt Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 139 - 143 .- 610
Loét tá tràng là tình trạng tổn thương sâu ở niêm mạctá tràng với đặc điểm mạn tính và hay tái phát. Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị loét tá tràng có nhiễm H. pylori ở trẻ em bằng phác đồ 4 thuốc có Bismuth tại Bệnh viện Nhi Thái Bình. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên 42 trẻ (3–16 tuổi) được chẩn đoán loét tá tràng nhiễm H. pylori bằng test urease và mô bệnh học. Trẻ được điều trị bằng phác đồ 4 thuốc có Bismuth. Hiệu quả được đánh giá bằng tỷ lệ tiệt trừ H. pylori, liền sẹo ổ loét, cải thiện triệu chứng và tác dụng không mong muốn. Kết quả: Tuổi trung bình 11,5 ± 2,1; nam/nữ = 2,5/1. Sau 6 tuần, tiệt trừ H. pylori đạt 81%, lành ổ loét 88,1%, 11,9% chưa khỏi và78,6% bệnh nhân hết đau bụng. Các triệu chứng xuất huyết tiêu hóa, buồn nôn, ợ hơi, khó tiêu đều hết sau điều trị. Tác dụng không mong muốn là mệt mỏi chiếm tỷ lệ thấp, không cần ngừng điều trị. Kết luận: Phác đồ 4 thuốc có Bismuth đạt hiệu quả cao trong tiệt trừ H. pylori và làm lành ổ loét tá tràng ở trẻ em, an toàn và dung nạp tốt, phù hợp triển khai tại Thái Bình.
2 Xây dựng mô hình chuột nhắt chủng Swiss bị loét dạ dày tá tràng bằng phương pháp WIRS / Trần Hữu Dũng, Đặng Công Thuận, Trần Đức Nguyên Phúc // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 112-119 .- 610
Xây dựng một mô hình chuẩn động vật bị viêm loét dạ dày, tá tràng với mức độ viêm loét được xác định cụ thể như trên người để sử dụng cho các thử nghiệm nghiên cứu thuốc điều trị bệnh đang rất cần thiết. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xây dựng mô hình chuột nhắt chủng Swiss bị loét dạ dày tá tràng bằng phương pháp gây stress và đánh giá sự phù hợp của mô hình đã xây dựng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Gây loét dạ dày tá tràng cho chuột Swiss bằng phương pháp WIRS (Water Immersion Restraint Stress) trong 3, 5, 7 và 9 ngày. Lựa chọn thời gian gây loét tối ưu nhất dựa vào hình ảnh đại thể, vi thể và nồng độ các biomaker sinh học liên quan tình trạng viêm nhiễm bao gồm Glutathione và Malondialdehyde. Mô hình đã xây dựng sẽ được đánh giá sự phù hợp bằng cách gây loét với điều kiện đã lựa chọn để xác định tính lặp lại, sau đó quan sát các tổn thương viêm loét với trạng thái không điều trị trong 7, 14, 21 và 28 ngày để xác định sự tự lành bệnh theo thời gian. Kết quả: Sau 9 ngày, tình trạng viêm loét trên dạ dày tá tràng chuột đã đáp ứng tất cả các tiêu chí đánh giá. Nếu không được điều trị, chuột cần đến 28 ngày thì dạ dày tá tràng mới trở về trạng thái sinh lý bình thường. Kết luận: Mô hình có triển vọng để ứng dụng vào các nghiên cứu tác dụng điều trị viêm loét dạ dày tá tràng của thuốc trên động vật thí nghiệm.