CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Phẫu thuật nội soi
1 Di căn xa sau mổ ung thư đại tràng phả / Vũ Hoàng Hà, Phạm Hùng Cường // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 269 - 278 .- 610
Khảo sát tình trạng di căn xa sau mổ ung thư (UT) đại tràng phải tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Bệnh nhân và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca 60 bệnh nhân UT đại tràng phải được phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ 01/2016 đến 12/2021. Kết quả: - Tỉ lệ di căn xa là 15% (KTC 95%: 6 - 24%). Trong số các trường hợp di căn xa; di căn gan, phổi và phúc mạc chiếm đại đa số (91%). - Các bệnh nhân di căn xa có tiên lượng sống toàn bộ kém hơn các bệnh nhân không di căn. - U T4a là yếu tố tiên lượng xấu độc lập đến khả năng di căn xa sau mổ. - Điều trị di căn xa nhằm điều trị tận gốc có giá trị tiên lượng độc lập khi phân tích đa biến. Các bệnh nhân điều trị đa mô thức có nguy cơ tử vong thấp hơn các bệnh nhân chỉ điều trị toàn thân 0,3 lần. Kết luận: Di căn xa sau mổ UT đại tràng phải chiếm tỉ lệ 15%; với đại đa số là di căn gan, phổi và phúc mạc. Các bệnh nhân di căn xa có tiên lượng kém hơn các bệnh nhân không di căn. Điều trị di căn nhằm tận gốc là yếu tố tiên lượng độc lập thời gian sống còn toàn bộ.
2 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng phải tại Bệnh viện Thanh Nhàn 264 / Đào Quang Minh, Nguyễn Văn Phước, Phạm Văn Biên // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 264 - 268 .- 610
Nghiên cứu nhằm mục địch đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải điều trị ung thư biểu mô tuyến tại Bệnh viện Thanh Nhàn giai đoạn 2021 - 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 41 bệnh nhân ung thư biểu mô đại tràng được phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải tại Bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 01/2021 đến tháng 3/2024. Kết quả: Tuổi trung bình trong nghiên cứu là 51,7 ± 8,3 (28 - 87 tuổi). Tỷ lệ nam/nữ là 1,3/1. Thời gian khởi phát bệnh đến khi vào viện dưới 6 tháng 52,1%, Đau bụng chiếm tỷ lệ cao nhất 97,6%. Kết quả nội soi đại trực tràng ống mềm cho thấy khối u ở đại tràng lên và manh tràng chiếm tỷ lệ 51,2%. Khối u ở đại tràng góc gan chiếm tỷ lệ 41,5%. Tất cả các trường hợp đều được cắt sát gốc bố mạch hồi đại tràng, 17,1% trường hợp được cắt nhánh phải của động mạch đại tràng giữa. Vét hạch D2 chiếm tỷ lệ cao 87,8%. Số hạch thu được trung bình là 18,1 ± 5,0 hạch. Thời gian mổ trung bình 142,1 ± 23,8 phút (thấp nhất 87 phút, cao nhất 186 phút). Cắt nửa đại tràng phải mở rộng chiếm tỷ lệ 12,2%, đau sau mổ trung bình 3,1 ± 1,2 ngày. Thời gian có lại trung tiện trung bình 3,1 ± 1,9 ngày. Nhiễm trùng vết mổ chiếm tỷ lệ 9,8%. Bục xì miệng nối gây viêm phúc mạc chiếm tỷ lệ 2,4%. Chảy máu miệng nối 2,4%. Thời gian nằm viện trung bình 8,5 ± 2,5 ngày. Kết quả xa sau mổ có 92,7% bệnh nhân còn thông tin liên lạc và theo dõi đánh giá được tại thời điểm kết thúc nghiên cứu. Tại thời điểm kết thúc nghiên cứu có 8,1% trường hợp tử vong, 13,5% tái phát di căn nhưng không có tái phát tại chỗ. Thời gian sống thêm sau mổ của nhóm nghiên cứu trung bình là 33,15 ± 1,25 tháng. Tỷ lệ sống thêm sau 1 năm là 96,5%, sau 3 năm là 78,6%. Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải điều trị ung thư biểu mô tại Bệnh viện Thanh Nhàn cho kết quả tốt, tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp, đảm bảo về mặt ung thư học… góp phần nâng cao chất lượng điều trị bệnh nhân ung thư tại Hà Nội.
3 Khảo sát đặc điểm hình ảnh học cửa sổ trước ống lệ mũi và ứng dụng trong phẫu thuật nội soi xoang hàm / Lý Xuân Quang, Bùi Nguyên Thảo // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 237 - 241 .- 610
Khảo sát các đặc điểm hình thái học của cửa sổ trước ống lệ mũi trên phim chụp cắt lớp vi tính (CT-scan) mũi xoang và đánh giá khả năng ứng dụng của phẫu thuật tiếp cận xoang hàm bằng đường trước ống lệ mũi trên người bệnh (NB) Việt Nam. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 102 NB (204 bên) được chụp CT-scan mũi xoang tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ 12/2024 đến 06/2025. Các thông số được đo trên mặt phẳng axial bao gồm: độ rộng cửa sổ trước ống lệ mũi (AB), khoảng cách từ thành trước xoang hàm đến thành sau ống lệ mũi (AC), và độ rộng ống lệ mũi (BC). Phân loại độ rộng cửa sổ trước ống lệ mũi thành 3 nhóm theo Simmen: Nhóm I (<3 mm), Nhóm II (3-7 mm), và Nhóm III (>7 mm). Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 47,0 ± 14,6. Tỷ lệ nam/nữ là 1/1,4. Độ rộng trung bình của cửa sổ trước ống lệ mũi (AB) là 4,5 ± 2,3 mm. Khoảng cách trung bình từ thành trước xoang hàm đến thành sau ống lệ mũi (AC) là 13,9 ± 2,6 mm. Độ rộng trung bình ống lệ mũi (BC) là 9,4 ± 1,9 mm. Tỷ lệ phân bố các nhóm I, II, và III lần lượt là 29,4%, 55,4% và 15,2%. Tỷ lệ NB có thể thực hiện kỹ thuật PLRA (Nhóm II và III) là 70,6%. Có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về độ rộng cửa sổ trước ống lệ mũi giữa nam (5,2 ± 2,2 mm) và nữ (4,0 ± 2,0 mm) (p<0,05). Kết luận: Đặc điểm giải phẫu của cửa sổ trước ống lệ mũi ở dân số nghiên cứu phù hợp để triển khai kỹ thuật tiếp cận xoang hàm bằng đường trước ống lệ mũi trên phần lớn NB. Việc đánh giá các thông số này trên CT-scan trước mổ là cần thiết để lựa chọn đường tiếp cận phù hợp, đặc biệt cần thận trọng ở NB nữ do có xu hướng không gian hẹp hơn.
4 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách / Nguyễn Nguyện, Hồ Mạnh Hùng, Trần Hữu Anh Tú // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 144-151 .- 610
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi mũi xoang điều trị viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu ở 56 bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách, được phẫu thuật nội soi mũi xoang từ tháng 2/2021 đến tháng 6/2023. Phương pháp nghiên cứu tiến cứu, mô tả, có can thiệp lâm sàng. Kết quả: Nam chiếm tỷ lệ 55,4%, nam 44,6%. Độ tuổi 16 - 45 gặp nhiều nhất, chiếm 59%. Triệu chứng cơ năng: chảy mũi gặp ở mọi trường hợp, nghẹt mũi 91,1%, nhức đầu 83,9%, giảm mất khứu giác 33,9%. Triệu chứng thực thể qua nội soi: tất cả đều có phù nề niêm mạc và bán tắc phức hợp lỗ ngách, dịch xuất tiết 96,4% và polyp mũi 37,5%. Hình thái bất thường phức hợp lỗ ngách chủ yếu là bất thường cuốn giữa 24,1%, tế bào Haller rất hiếm gặp chỉ 2,7%. Đánh giá kết quả chung điều trị sau phẫu thuật 3 tháng: tốt 67,9%, khá 28,5% và 3,6% kém là hai trường hợp có tái phát polyp. Không có trường hợp nào bị biến chứng nặng như tổn thương ống lệ tỵ, chảy dịch não tủy, chảy máu hậu nhãn cầu, song thị hay mù mắt. Kết luận: Phẫu thuật nội soi mũi xoang là phương pháp an toàn và hiệu quả để điều trị viêm mũi xoang mạn tính có bất thường phức hợp lỗ ngách.
5 Hiệu quả giảm đau của gây tê ống cơ khép kết hợp Dexamethason tĩnh mạch so với Morphin khoang dưới nhện sau phẫu thuật nội soi khớp gối / Vũ Đình Quân // Y dược học (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 105-111 .- 610
So sánh hiệu quả giảm đau của phương pháp gây tê ống cơ khép kết hợp với dexamethason tĩnh mạch so với morphin khoang dưới nhện, cũng như tác dụng không mong muốn của hai phương pháp. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, ngẫu nhiên có so sánh. Chín mươi hai bệnh nhân trên 18 tuổi, ASA I đến III, có chỉ định phẫu thuật nội soi khớp gối được phân bổ ngẫu nhiên vào hai nhóm. Tất cả bệnh nhân đều được gây tê tủy sống bằng bupivacain ưu trọng và fentanyl, truyền tĩnh mạch paracetamol 1 g mỗi 8 giờ sau phẫu thuật. Một nhóm được tiêm 100 mcg morphin vào khoang dưới nhện (nhóm M) và nhóm còn lại được gây tê ống cơ khép bằng levobupivacain 0,25% 20 mL và dexamethason 8 mg tiêm tĩnh mạch (nhóm S). Điểm số đau sau phẫu thuật khi nghỉ ngơi và vận động được đánh giá bằng thang điểm nhìn (VAS), tỷ lệ và thời điểm yêu cầu giải cứu đau đầu tiên, tác dụng không mong muốn, sự hài lòng của bệnh nhân, chất lượng hồi phục sau phẫu thuật cũng được đánh giá. Kết quả: Điểm VAS trung vị của cả hai nhóm đều nhỏ hơn hoặc bằng 3 tại các thời điểm nghiên cứu. Tỷ lệ yêu cầu giải cứu đau ở nhóm S (8,7%) và nhóm M (6,5%, p > 0,05). Thời gian trung bình đến khi yêu cầu lần giải cứu đầu tiên ở nhóm S (11,4 ± 3,5 giờ) và nhóm M (16,6 ± 2,6 giờ, p > 0,05). Có 39,1% bệnh bị buồn nôn và nôn, 37,0% bệnh nhân bị ngứa trong nhóm M, tỷ lệ này ở nhóm S không đáng kể lần lượt là 0% và 4,3%, p < 0,05. Tỷ lệ bí tiểu ở nhóm M và S lần lượt là 10,9% và 4,3%, p > 0,05. Không có trường hợp nào bị ức chế hô hấp ở cả hai nhóm. Mức độ hài lòng thấp hơn đáng kể ở nhóm M (34,8% rất hài lòng) khi so sánh với nhóm S (69,6% rất hài lòng, p < 0,05). Điểm QoR-15 ở nhóm S cao hơn nhóm M ở cả hai thời điểm 12 giờ và 24 giờ, p < 0,05. Kết luận: Cả hai phương pháp đều mang lại hiệu quả giảm đau tốt sau phẫu thuật nội soi khớp gối. Gây tê ống cơ khép kết hợp với dexamethason tĩnh mạch vượt trội hơn so với morphin khoang dưới nhện về tỷ lệ tác dụng không mong muốn, sự hài lòng của bệnh nhân và chất lượng hồi phục sau phẫu thuật.
6 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân được điều trị sỏi đường mật bằng phẫu thuật nội soi / Cao Minh Tiệp, Phùng Thế Khang, Đặng Ngọc Giao, Lê Văn Lợi // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 184 - 189 .- 610
Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân sỏi đường mật điều trị bằng phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 01/2022 đến 06/2023. Đối tượng và phương pháp: Đối tượng gồm 39 được chẩn đoán sỏi đường mật. Phương pháp nghiên cứu mô tả kết hợp hồi cứu và tiến cứu. Kết quả: Bệnh gặp ở người có tuổi trung bình là 57,33 ± 15,51 tuổi (nhỏ nhất 19 và lớn nhất 82 tuổi), nhóm 60-79 tuổi chiếm tỷ lệ 41,0%, giới nữ chiếm tỷ lệ 59%, tỷ lệ nam/nữ: là 0,7/1. Đau hạ sườn phải gặp ở 100 % trường hợp, sốt gặp ở 35,9% trường hợp, vàng da gặp ở 30,8% trường hợp và tam chứng C-harcot gặp ở 30,8% trường hợp. Bạch cầu tăng ở 35,9% trường hợp, Neutrophil tăng ở 38,5% trường hợp. Billirubin toàn phần tăng ở 53,85% trường hợp, men SGOT tăng ở 64,1% trường hợp, SGPT tăng ở 66,7% trường hợp. Kích thước ống mật chủ trên siêu âm và CLVT/CHT tương đương nhau. Kết luận. Sỏi đường mật gặp nhiều ở nữ, lứa tuổi 60-79 tuổi. Lâm sàng gồm đau hạ sườn, sốt và vàng da. Xét nghiệm thấy tăng bạch cầu, enzym gan và bilirubin toàn phần.





