CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Phẫu thuật nội soi

  • Duyệt theo:
1 Kết quả phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn trong điều trị ung thư dương vật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Nguyễn Hữu Thảo, Nguyễn Tiến Dũng, Lại Hoàng Lâm, Nguyễn Quang, Vũ Hồng Tuân // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 322-329 .- 610

Nghiên cứu thực hiện trên 65 bệnh nhân ung thư dương vật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2017 đến 2025 nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 52,3 ± 11,5 (tuổi) với đa số ở giai đoạn pT1 (58,5%). Thời gian phẫu thuật trung bình là 155,7 ± 55,0 (phút). Kỹ thuật nội soi nạo hạch bẹn đảm bảo tính triệt để ung thư học với số hạch nạo được trung bình là 8,4 hạch bên phải và 8,0 hạch bên trái, duy trì số lượng hạch nạo vét ở mức tương đương với các báo cáo phẫu thuật mở trong y văn. Ưu điểm của phẫu thuật này là giảm thiểu biến chứng vạt da với tỉ lệ nhiễm trùng và hoại tử da là 0%, trong khi tỉ lệ tụ dịch là 10,8%. Kết quả theo dõi xa cho thấy tỉ lệ sống còn đặc hiệu do ung thư đạt 95,3% và sống còn toàn bộ đạt 93,9%. Nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn là kỹ thuật an toàn, hiệu quả, giúp giảm thiểu biến chứng trong khi vẫn đảm bảo kết quả ung thư học.

3 Kết quả điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên bằng phẫu thuật nội soi qua đường tiền đình miệng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội / Ngô Minh Trí, Nguyễn Xuân Hậu, Nguyễn Xuân Hiền, Nguyễn Diệu Linh, Lê Văn Quảng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 252-260 .- 610

Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng (PTNS TG TĐM) là kỹ thuật xâm lấn tối thiểu trong điều trị ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả của phương pháp này ở ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 01/2020 đến 07/2024. 30 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên được phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng cắt toàn bộ tuyến giáp, vét hạch cổ trung tâm hai bên; chỉ định iod phóng xạ theo ATA 2015. 96,7% bệnh nhân là nữ, tuổi trung bình 33,1 ± 8,6 (16 - 51). Thời gian mổ trung bình 103,8 ± 31,1 (65 - 190) phút, lượng máu mất trung bình 16,3 ± 8,7 (5 - 40) mL. Biến chứng tạm thời gồm suy cận giáp 10,0% và tổn thương thần kinh thanh quản quặt ngược 13,3%; không ghi nhận biến chứng vĩnh viễn. Di căn hạch cổ trung tâm tiềm ẩn gặp ở 46,7%. Sau 3 tháng, siêu âm cổ không phát hiện tồn dư; 4 trường hợp bất thường Tg/anti-Tg trở về bình thường sau 6 – 9 tháng. Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng là phương pháp an toàn, hiệu quả và thẩm mỹ cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên chọn lọc.

4 Kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng, làm miệng nối ngoài cơ thể điều trị ung thư đại tràng phải tại Bệnh viện K / Đoàn Trọng Tú, Trần Tuấn Thành, Nguyễn Văn Cương, Phạm Thế Dương // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 271-279 .- 610

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng điều trị ung thư đại tràng phải. Nghiên cứu mô tả trên 56 bệnh nhân ung thư đại tràng phải được phẫu thuật nội soi tại khoa Ngoại tiêu hoá 2 Bệnh viện K từ tháng 9/2023 đến tháng 9/2025. Thời gian phẫu thuật trung bình là 130,4 ± 24,6 phút (110 - 165 phút), không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở. 89,3% các trường hợp mạc treo toàn vẹn với số hạch vét được trung bình là 20,5 ± 9,1 hạch (10 - 28 hạch). Tỷ lệ biến chứng chung là 5,4%, bao gồm 1 trường hợp viêm phổi, 1 trường hợp chảy máu và 1 trường hợp áp xe tồn dư sau mổ, không có trường hợp nào rò miệng nối, mổ lại hoặc tử vong liên quan phẫu thuật. Thời gian nằm viện trung bình 7,9 ± 1,2 ngày (7 - 13 ngày). Phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng trong ung thư đại tràng phải cho kết quả sớm khả quan với tỷ lệ biến chứng thấp, bệnh nhân hồi phục sớm sau mổ.

5 Phẫu thuật nội soi qua mũi mở rộng kẹp cổ túi phình động mạch thông trước: Báo cáo ca lâm sàng / Nguyễn Thế Hào, Phạm Quỳnh Trang, Phạm Văn Thành Công, Vũ Tân Lộc, Khổng Ngọc, Minh, Nguyễn Tất Đặng, Lê Ngọc Huy, Nguyễn Văn Cường // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 88-96 .- 610

Phẫu thuật nội soi qua mũi mở rộng kẹp túi phình động mạch thông trước vẫn là chỉ định chọn lọc cao do hành lang tiếp cận hẹp và thách thức kiểm soát mạch máu. Chúng tôi báo cáo một ca túi phình động mạch thông trước chưa vỡ điều trị bằng kỹ thuật này tại Bệnh viện Bạch Mai. Bệnh nhân nam 59 tuổi, túi phình 5,86 × 5,02 × 4,47 mm, cổ rộng (tỷ lệ đáy/cổ 0,85), thiểu sản A1 phải; phức hợp thông trước xoay 90° khiến hai nhánh A2 thẳng trục hướng tiếp cận nội soi. Lập kế hoạch 3D từ CTA và DSA mô phỏng hành lang phẫu thuật và định hướng đặt clip. Trong mổ, kẹp tạm thời A1 trái và đặt thành công clip ngang cổ túi phình. CTA và DSA sau mổ xác nhận loại trừ hoàn toàn túi phình, bảo tồn các nhánh mạch. Bệnh nhân xuất hiện rò dịch não tủy thoáng qua và viêm màng não vi khuẩn, ổn định sau điều trị bảo tồn. Tái khám 3 tháng đạt mRS = 0, khứu giác phục hồi hoàn toàn. Kỹ thuật khả thi với túi phình động mạch thông trước có giải phẫu thuận lợi được chọn lọc kỹ; lập kế hoạch 3D trước mổ là yếu tố then chốt.

6 Kết quả sống thêm sau phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô tuyến dạ dày tại Bệnh viện K giai đoạn 2019 - 2025 / Phạm Văn Bình, Lê Văn Thành // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 209-218 .- 610

Nghiên cứu hồi cứu trên 199 người bệnh ung thư biểu mô tuyến dạ dày được phẫu thuật nội soi triệt căn tại Bệnh viện K, giai đoạn 2019 – 2025 nhằm đánh giá kết quả sống thêm và các yếu tố tiên lượng với 2 mục tiêu chính: Đánh giá thời gian sống thêm toàn bộ và thời gian sống thêm không bệnh của người bệnh ung thư dạ dày được điều trị bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện K, giai đoạn 2019 – 2025; Phân tích một số yếu tố liên quan đến thời gian sống thêm toàn bộ của nhóm người bệnh trên.

7 Đánh giá tai biến và biến chứng của phẫu thuật nội soi điều trị viêm túi mật cấp do sỏi tại Bệnh viện Nguyễn Trãi / Phạm Quốc Cường, Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Thị Linh Huệ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 348 - 353 .- 610

Xác định tỉ lệ tai biến và biến chứng của phẫu thuật nội soi cắt túi mật, xác định mối liên quan giữa một số yếu tố liên quan với tai biến và biến chứng nặng của phẫu thuật nội soi cắt túi mật điều trị viêm túi mật cấp do sỏi. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 249 bệnh nhân nhập viện khoa Ngoại tổng hợp, bệnh viện Nguyễn Trãi được chẩn đoán là viêm túi mật cấp do sỏi được phẫu thuật nội soi cắt túi mật từ 01/01/2016 đến 31/12/2020. Kết quả: Kết quả cho thấy 100 trường hợp (40,16%) có các tai biến và biến chứng, trong đó biến chứng nặng là 14 trường hợp (5,6%). Các biến chứng nhẹ gồm: thủng túi mật, đổ dịch mật, sỏi vào ổ bụng là có tỷ lệ cao nhất 15,2%, theo sau đó là chảy máu (thành bụng ở lỗ trocar, từ giường túi mật) chiếm 11,2%. Tai biến và biến chứng nặng gồm: chảy máu cần phải chuyển mổ mở cầm máu và tổn thương đường mật chiếm lớn nhất với 2,0%, sau đó là rò mật với 1,2%. Kết quả cũng cho thấy có mối liên quan giữa tai biến và biến chứng nặng với các yếu tố: giới tính, đặc điểm đau quặn bụng từng cơn, chẩn đoán trên siêu âm và trên kết quả chụp cắt lớp vi tính, tình trạng vùng túi mật và cuống gan bị phù nề- viêm dính, tình trạng hoại tử thành túi mật. Kết luận: Các tai biến và biến chứng nặng xảy ra nhiều hơn ở các đặc điểm: nam giới, đau quặn từng cơn và có kết quả siêu âm hoặc cắt lớp điện toán là viêm cấp/mạn, có hiện tượng vùng túi mật và cuống gan bị phù nề, viêm dính, hoại tử thành túi mật. Khi phẫu thuật cần chú ý trong bệnh lý viêm túi mật cấp được phẫu thuật nội soi cắt túi mật cần phẫu tích xác định giải phẫu học tam giác gan mật để tránh các tai biến chứng nặng.

8 Kết quả phẫu thuật nội soi cắt dạ dày bán phần cực dưới, nạo vét hạch D2 với miệng nối trong ổ bụng điều trị ung thư biểu mô dạ dày tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức / Nguyễn Minh Cường, Quách Văn Kiên, Bùi Thanh Phúc // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 27-30 .- 610

Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt dạ dày bán phần cực dưới, nạo vét hạch D2 với miệng nối trong ổ bụng điều trị ung thư biểu mô dạ dày tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức giai đoạn 2021- 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu, chọn mẫu thuận tiện, thực hiện trên 36 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi cắt dạ dày bán phần cực dưới, nạo vét hạch D2 với miệng nối trong ổ bụng điều trị ung thư biểu mô dạ dày tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong giai đoạn 2021-2024. Kết quả: Tuổi trung bình là 62,4 ± 11,4 tuổi (37-86 tuổi). Nam giới chiếm 69,4%. Lý do đến khám hay gặp là đau bụng vùng thượng vị (69,4%). Khối u hay gặp nhất ở hang môn vị và bờ cong nhỏ (97,2%). Kích thước khối u trung bình 3,14 ± 1,65 cm. Đặc điểm mô bệnh học hay gặp nhất là ung thư biểu mô tuyến (86,1%). Số hạch nạo vét trung bình là 22,31 ± 7,64 hạch, số hạch di căn trung bình là 1,61 ± 4,29 hạch. Thời gian mổ trung bình 202,67 ± 51,378 phút (120- 360 phút). Hầu hết các bệnh nhân không gặp tai biến trong mổ. Đa số bệnh nhân đau ít sau mổ (72,3%). Sau phẫu thuật, vận động sớm sau mổ trung bình 1,83 ngày, rút sonde dạ dày 1,94 ngày, bệnh nhân có trung tiện trung bình 3 ngày, ăn đường miệng 3,25 ngày. Thời gian nằm viện trung bình 7,25 ngày. Tỉ lệ biến chứng sau mổ là 8,4%, bao gồm chảy máu miệng nối sau mổ và áp xe tồn dư sau mổ nhưng đều được điều trị nội khoa ổn định và ra viện. Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt dạ dày bán phần cực dưới, nạo vét hạch D2 với miệng nối trong ổ bụng điều trị ung thư biểu mô dạ dày là phương pháp an toàn, mang lại hiệu quả cao trong điều trị ung thư biểu mô dạ dày.

9 So sánh hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi của Bupivacain phối hợp Dexamethason so với Bupivacain đơn thuần trong gây tê cơ dựng sống dưới hướng dẫn siêu âm / Nguyễn Thị Hương, Phạm Quang Minh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 95 - 100 .- 610

So sánh hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi của gây tê cơ dựng sống dưới hướng dẫn siêu âm bằng bupivacaine 0,25% đơn thuần với bupivacaine 0,25% phối hợp dexamthason 4mg. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, ngẫu nhiên có đối chứng. Tiến hành gây tê cơ dựng sống để giảm đau sau phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi cho 70 bệnh nhân, chia làm hai nhóm: gây tê bằng 30ml bupivacain 0,25% (nhóm I) và gây tê bằng 30 ml bupivacain 0,25% phối hợp dexamethason 4mg (nhóm II). Đánh giá hiệu quả giảm đau thông qua các chỉ số điểm đau VAS khi nghỉ ngơi/vận động, liều lượng morphin tiêu thụ. Kết quả: Điểm VAS trung bình khi nghỉ ngơi/vận động của nhóm II tại các thời điểm từ 12 đến 20 giờ sau gây tê ESP thấp hơn nhóm I, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Thời gian yêu cầu liều morphin đầu tiên của các bệnh nhân nhóm I ngắn hơn nhóm II: 10,21 ± 1,17 so với 14,44 ± 2,01 giờ; p < 0,01. Tổng liều morphin sử dụng trong 24 và 48 giờ đầu của các bệnh nhân nhóm I nhiều hơn nhóm II: 21,54 ± 4,02 mg/ 36,67 ± 4,14 mg so với 13,26 ± 2,64 mg/22,36 ± 5,62 mg; p < 0,01. Kết luận: Gây tê ESP bằng bupivacain phối hợp dexamethason có hiệu quả giảm đau kéo dài và tốt hơn gây tê ESP bằng bupivacain đơn thuần trong phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi.

10 Tỷ lệ chảy máu và các yếu tố liên quan sau nội soi cắt polyp đại–trực tràng ở bệnh nhân xơ gan / Hồ Thị Vân Khánh, Nguyễn Công Long // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 77 - 81 .- 610

Mô tả tỷ lệ chảy máu ở bệnh nhân xơ gan sau cắt polyp đại trực tràng qua nội soi và phân tích một số yếu tố liên quan đến chảy máu sau thủ thuật ở nhóm bệnh nhân này. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu được thực hiện trên 58 bệnh nhân xơ gan được cắt polyp đại trực tràng bằng snare nhiệt tại Khoa Nội tiêu hóa BV 198 Bộ Công An và Trung tâm tiêu hóa gan mật Bệnh viện Bạch Mai từ 5/2024 đến 7/2025. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm STATA 17.0, sử dụng hồi quy logistic đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến chảy máu. Kết quả: 58 bệnh nhân với 145 polyp đã được cắt bằng Snare nhiệt.Tỷ lệ chảy máu sau cắt polyp ở bệnh nhân xơ gan là 24,14%, trong đó chảy máu tức thì chiếm 17,24% và chảy máu muộn 6,9%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: mức độ xơ gan Child-Pugh B (OR = 2,45; p = 0,04), kích thước polyp 10–19 mm (OR = 3,21; p = 0,03), ≥20 mm (OR = 6,2; p = 0,02), mô bệnh học loạn sản nặng (OR = 2,84; p = 0,02), và kỹ thuật snare nhiệt có tiêm nhấc (OR = 3,12; p = 0,014). Kết luận: Chảy máu sau cắt polyp ở bệnh nhân xơ gan là biến chứng đáng lưu ý, đặc biệt ở các trường hợp xơ gan mất bù và polyp kích thước lớn.