CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Tiểu đường type 2

  • Duyệt theo:
1 Lâm sàng, cận lâm sàng ở người bệnh nhồi máu não cấp có đái tháo đường tuýp 2 / Trần Thị Ánh Quyên, Nguyễn Văn Tuận, Nguyễn Anh Tuấn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 33 - 37 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân nhồi máu não cấp có đái tháo đường týp 2. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu 100 bệnh nhân nhồi máu não cấp trong đó có 50 bệnh nhân nhồi máu não có đái tháo đường týp 2 được điều trị tại Trung tâm Thần kinh bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2023 đến tháng 05/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 64.9  9.1, điểm NIHSS từ 5-15 điểm chiếm 72%, từ 0-4 điểm chiếm 18%, >16 điểm là 10%. Triệu chứng lâm sàng của nhồi máu ổ khuyết: liệt vận động đơn thuần nửa người là 38,5%, rối loạn cảm giác vận động nửa người 26,9%, mất điều phối nửa người 3,8%, nói khó bàn tay vụng về 11,6%. Glucose máu trung bình khi nhập viện là 12,25  5,83 mmol/l. Tỷ lệ bệnh nhân có HbA1C  7 là 72 %, giá trị trung bình của HbA1C là 8.56  2.89, tăng cholesterol máu 60%. Tỷ lệ vữa xơ, gây hẹp động mạch cảnh <70% (chiếm 60%) cao hơn nhóm không có đái đường (36%) (p<0,05). Trên CHT nhồi máu ổ khuyết nhiều ổ chiếm 71,4%; khu vực hạch nền và bao trong 42,9%, thân não, tiểu não là 25,7%, khu vực vành tia và trung tâm bầu dục 17,1%, đồi thị 14,3%. Kết luận: Người bệnh đái tháo đường týp 2 bị nhồi máu não cấp có điểm NIHSS ở mức độ trung bình, thường kèm rối loạn chuyển hoá với nhồi máu ổ khuyết nhiều ổ.

2 Mối liên quan giữa thiếu cơ và các đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân cao tuổi đái tháo đường tuýp 2 ngoại trú / Cao Thanh Ngọc, Nguyễn Thị Kim Tuyền, Lê Bảo Lệ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 59 - 63 .- 610

Xác định mối liên quan giữa thiếu cơ và các đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân cao tuổi đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 150 bệnh nhân ≥60 tuổi mắc ĐTĐ típ 2 tại phòng khám Nội tiết Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2022. Thiếu cơ được đánh giá bằng thang điểm SARC-CalF (ngưỡng ≥11 điểm). Dữ liệu được thu thập qua khai thác bệnh sử, khám lâm sàng và đo vòng bắp chân. Phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0 với các phép kiểm chi-squared, t-test và hồi quy logistic. Kết quả: Tỷ lệ thiếu cơ theo thang điểm SARC-CalF là 50,7%. Thiếu cơ có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với giới tính nữ (p<0,01), tuổi cao (p<0,001), chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp (p<0,01), vòng bụng nhỏ (p<0,05), thời gian mắc ĐTĐ lâu hơn (p<0,01), HbA1c ≥7% (p<0,05), và ít vận động thể lực (p<0,001). Kết luận: Thiếu cơ là tình trạng phổ biến ở bệnh nhân cao tuổi ĐTĐ típ 2 điều trị ngoại trú, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân nữ, lớn tuổi, kiểm soát đường huyết kém và ít hoạt động thể lực. Cần sàng lọc thiếu cơ định kỳ để có chiến lược can thiệp sớm, cải thiện chức năng vận động và chất lượng sống

3 Khảo sát dao động đường huyết bằng thiết bị CGM ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn / Đỗ Đình Tùng, Lương Tuấn Kiên, Nguyễn Thị Thúy Nga, Dương Thị Mỹ Hảo, Lê Thị Mỹ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 260 - 265 .- 610

Khảo sát sự dao động đường huyết bằng máy CGM nhằm cung cấp dữ liệu toàn diện giúp cá thể hóa điều trị. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. Tất cả bệnh nhân được theo dõi glucose máu liên tục trong 14 ngày bằng thiết bị Freestyle Libre. Các chỉ số CGM ghi nhận bao gồm: AG, GMI, GV, TIR, TAR, TBR. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 71,25 ± 10,05; 83,3% có ≥1 bệnh mạn tính đi kèm. Chỉ 30% bệnh nhân đạt mục tiêu AG và GMI, và 10% đạt đồng thời cả ba tiêu chí GMI, GV và TIR. TIR trung bình là 53,33 ± 20,46%, với 23,3% đạt mục tiêu chung. Trong nhóm ≥65 tuổi, 85% đạt TIR > 50%. TAR và TBR lần lượt là 40,82% và 1,53%. Kết luận: Phần lớn bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát glucose theo chỉ số CGM. CGM là công cụ hữu ích trong quản lý ĐTĐ típ 2, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân cao tuổi và đa bệnh lý.

4 Đánh giá tác dụng của viên nang tieukhatling trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 chưa dùng thuốc y học hiện đại tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Nội / Trần Thị Hồng Phương, Hoàng Minh Chung // Y học thực hành .- 2024 .- Số 3 .- Tr. 47-50 .- 610

Objectives: Evaluate the effect of hypoglycemia of Tieu Khat Ling capsule on type 2 diabetes patients who have not treated by modem drug. Subjects: 30 patients were diagnosed with type 2 diabetes according to the standard choices of modem medicine (according ADA 2014) and traditional medicine. Patient have not treated by modem drug. Methodology: A prospective study, clinical trials, before and after treatment comparing. Materials: Tieu Khat Ling capsule 0,5g with number registration VD 16401 - 12 have made in Khang Minh Pharmaceutical Joint Stock Company. Results: Tieu khat Ling capsule 0.5g improved good clinical symptoms, anthropometric indices, symptoms more eaten, more drinking, more urinate, fatigue, constipation. After 90 days of treatment: reduce fasting glucose from 8.02 +/- 0.86 mmol/l to 6.21 +/- 0.69 mmol/l (p 0.01).

5 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh / Nguyễn Thị Tâm, Trần Thị Thanh Hóa, Vũ Thị Thanh Huyền // Y học thực hành .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 5-8 .- 610

Objective: To assess factors related to glucose management in type 2 diabetic outpatient patients. Subjects and methods: A descriptive cross-sectional study included 269'diabetic patients treated as outpatient at Dong Anh general hospital from 612013 to 1012013. Results: There was correlation between diabetic duration and level of glycemic control in patients with diabetes. The percentage of patients with good and acceptable fasting glucose at the group diagnosed less than 5 years was 55.8 percent higher than those in the group diagnosed more than 5 years (40.9 percent) (p 0,05). Mean postprandial blood glucose in the group with poor LDL-C control is higher than those in the group with good and acceptable LDL-C control (p 0.05). Proportion of patients with good glycemic control in the group taking one medication was higher than that in the group with combination therapy and insulin treatment (p 0.05). There were no correlation between glucose control and age, sex, exercise and blood pressure (p 0.05). Conclusion: The study showed that there was an association between duration of diabetes, treatment protocols and lipid control and the level of blood glucose control.