CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Ung thư biểu mô tế bào gan

  • Duyệt theo:
1 Đánh giá kết quả phẫu thuật ALPPS - cắt gan 2 thì điều trị ung thư biểu mô tế bào gan / Trần Công Duy Long, Nguyễn Long Đức, Phan Phước Nghĩa, Lê Tiến Đạt // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 229 - 234 .- 610

Đánh giá tỷ lệ thành công của phẫu thuật ALPPS, cắt gan hai thì thông qua mức độ phì đại gan bảo tồn sau ALPPS, tỷ lệ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn cắt gan lớn mà trước đó không thể; Xác định tỷ lệ tai biến, biến chứng của phẫu thuật; Xác định gian sống thêm không bệnh và sống thêm toàn bộ của bệnh nhân sau phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp đoàn hệ tiến cứu, bắt đầu từ tháng 5/2018 - 6/2025 tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM. Tiêu chuẩn chọn bệnh là các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tế bào gan có chỉ định phẫu thuật cắt gan phải hoặc cắt gan thùy phải mà không đủ thể tích gan bảo tồn và không thể thực hiện kỹ thuật thuyên tắc tĩnh mạch cửa qua da. Kết quả nghiên cứu: Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 05/2018 đến 06/2025, chúng tôi có 60 trường hợp (TH) ung thư biểu mô tế bào gan thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu. Tuổi trung bình: 53,4 ± 12,3 , tỉ lệ nam: nữ là 5,5:1. Tất cả bệnh nhân (BN) có chức năng gan Child Pugh A. Kích thước u: trung vị 8,5 cm (2-15cm). Tỷ lệ có huyết khối tĩnh mạch cửa nhánh phải trên đại thể: 30 (50%). Ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn BCLC A chiếm 5,1% (3 trường hợp), B chiếm 37,3% (22 trường hợp), nhiều nhất giai đoạn C chiếm 57,6% (34 trường hợp). Các lý do chọn phẫu thuật ALPPS: Huyết khối tĩnh mạch cửa phải: 30 TH (50%), không thể thực hiện PVE do khối u gần chỗ hợp lưu tĩnh mạch cửa phải và trái 19 TH (31,67 %), đã thực hiện tắc tĩnh mạch cửa qua da (PVE) nhưng gan phì đại không đủ 09 TH (15%), có bất thường giải phẫu mạch máu: 01 TH (1,67%), u gan đa ổ 2 thùy mà các u gan bên trái nằm gần bề mặt gan có thể phẫu thuật cắt bỏ khu trú: 1 TH (1,67%). Tỉ lệ thực hiện phẫu thuật nội soi ALPPS ở thì 1 là 81,7%. Khoảng thời gian giữa 2 thì phẫu thuật trung vị là 24 ngày (5 – 146 ngày). Thể tích gan bảo tồn (bao gồm thể tích gan trái và hạ phân thùy 1) trước ALPPS 325,9 ml ± 71, sau ALPPS 527,6 ml ± 99,5. Tỷ lệ thể tích gan trung bình phì đại thêm so với ban đầu: 70,4 % ± 47,4. Sau ALPPS, 51 TH (85%) có thể thực hiện cắt gan lớn. Tỉ lệ biến chứng sau mổ thì 2 là 19,6%, bao gồm báng bụng kéo dài, nhiễm trùng vết mổ, rò mật và viêm phổ) Một TH tử vong sau mổ do viêm phổi, suy chức năng gan. Tỷ lệ sống thêm không bệnh và toàn bộ sau phẫu thuật 3, 6, 12 tháng tương ứng là 92,2%, 65,3%, 45,2% và 86%%, 82,4%, 82,4%. Kết luận: Phẫu thuật ALPPS - cắt gan 2 thì nhằm làm phì đại thể tích gan bảo tồn để thực hiện phẫu thuật cắt gan lớn theo giải phẫu có tỷ lệ thành công cao, giúp tăng cơ hội cắt gan loại trừ khối u với tỷ lệ 85%. Mặc dù có tỷ lệ tai biến, biến chứng và tử vong nhưng mang đến hiệu quả sống thêm không bệnh và toàn bộ tại thời điểm 3,6,12 tháng khá tốt. Tuy nhiên do là kỹ thuật mới và mẫu nghiên cứu còn nhỏ nên cần tiếp tục phát triển và nghiên cứu để đánh giá thêm ưu nhược điểm của một phương pháp điều trị mới đầy hứa hẹn này

2 Đánh giá tác động ngân sách của thuốc đối quang từ gadoxetate disodium trong chụp cộng hưởng từ chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan và ung thư di căn gan tại Việt Nam / Phùng Lâm Tới, Đỗ Thị Quỳnh Trang, Nguyễn Thị Mai Phương, Đào Anh Sơn, Trần Quốc Khiêm, Hoàng Minh Tâm, Ong Thế Duệ, Lê Hồng Minh // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 258 - 264 .- 610

Đánh giá tác động ngân sách đối với quỹ bảo hiểm y tế khi chi trả cho thuốc đối quang từ đặc hiệu tế bào gan gadoxetate disodium (Gd-EOB-DTPA) trong chụp MRI để chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan và ung thư di căn gan. Phương pháp: Nghiên cứu đánh giá tác động ngân sách dựa trên mô hình hóa, với khung thời gian 5 năm, từ quan điểm của cơ quan chi trả (Bảo hiểm Y tế Việt Nam). Mô hình so sánh hai phương án: Gd-EOB-DTPA chưa được bảo hiểm y tế chi trả và được bảo hiểm y tế chi trả 100%. Dữ liệu đầu vào được tổng hợp từ y văn và tham vấn chuyên gia. Phân tích kịch bản với các mức tỷ lệ chi trả khác được thực hiện. Kết quả: Khi quỹ bảo hiểm y tế chi trả 100% cho Gd-EOB-DTPA, quỹ bảo hiểm y tế tiết kiệm được 2,77 tỷ đồng với chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan và 17,05 tỷ đồng với chẩn đoán ung thư di căn gan trong tổng thời gian 5 năm. Ngân sách tiết kiệm chủ yếu đến từ tiết kiệm chi phí điều trị ung thư gan nhờ phát hiện sớm và chính xác hơn. Kết quả phân tích kịch bản cũng cho thấy tiết kiệm ngân sách ở các mức bảo hiểm y tế chi trả 30%, 50% và 70% cho thuốc. Kết luận: Việc bảo hiểm y tế chi trả cho Gd-EOB-DTPA trong chẩn đoán ung thư gan mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt, đồng thời góp phần tăng khả năng tiếp cận kỹ thuật chẩn đoán chính xác cho người bệnh. Kết quả nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc xem xét đưa Gd-EOB-DTPA vào danh mục thuốc được bảo hiểm y tế chi trả tại Việt Nam.