CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Bệnh thận mạn
1 Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108 / Phạm Thị Cẩm Hưng, Lê Văn Thêm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 353 - 356 .- 610
Mô tả đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Phương pháp: Mô tả cắt ngang Kết quả nghiên cứu: Đa số người bệnh có độ tuổi từ 40-59 (39,8%), Giới tính nam (65,7%), nguyên nhân gây bệnh là bệnh cầu thận; Tất cả bệnh nhân có nồng độ Ure, Creatinin tăng, nồng độ trung bình lần lượt là: 27.951.12, 860.529.8; Đa số bệnh nhân có kết quả xét nghiệm tăng với nồng độ acid uric (82,41%) và nồng độ PTH (79,63%); Đa số bệnh nhân có kết quả xét nghiệm bình thường với nồng độ Fe (62,03%), Ferintine (50%), Na+ (97,22%), K+ (9074%), Phospho (51,85); Đa số bệnh nhân có kết quả xét nghiệm giảm với nồng độ Calci (69.45%); Đa số bệnh nhân có protein niệu (82.35%), albumin niệu chiếm (57.65%), hồng cầu niệu (55.29%) và không có bạch cầu niệu (75,29%). Kết luận: Bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối thường có tình trạng tăng nồng độ ure, creatinin, acid uric và hormone tuyến cận giáp (PTH), giảm nồng độ calci máu, đồng thời có tỷ lệ cao xuất hiện protein niệu, albumin niệu và hồng cầu niệu.
2 Khảo sát tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh thận mạn và yếu tố nguy cơ bệnh thận mạn ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú / Huỳnh Quang Minh Trí, Nguyễn Thị Thu Thảo, Trang Thuỷ Tiên, Nguyễn Thị Ngọc Điệp // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 363 - 366 .- 610
Bệnh ĐTĐ làm tăng nguy cơ bệnh thận giai đoạn cuối gấp 10 – 20 lần dân số chung. Đo độ lọc cầu thận ước tính giúp phát hiện bệnh thận mạn ở bệnh nhân ĐTĐ. Phát hiện sớm bệnh thận mạn ở giai đoạn sớm và tích cực điều trị sẽ làm chậm diễn tiến của bệnh. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh thận mạn và một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng mắc bệnh thận mạn ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang ở 248 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 điều trị ngoại trú. Ghi nhận các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chế độ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng mắc bệnh thận mạn. Kết quả: Có 248 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu với tuổi trung bình là 63.43 năm, thời gian mắc bệnh ĐTĐ trung bình là 8.98 năm, HbA1c trung bình là 7.73%. Tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh thận mạn là 15.32%. So với nhóm bệnh nhân không mắc bệnh thận mạn, nhóm bệnh nhân mắc bệnh thận mạn có tuổi lớn hơn (p<0.05). Kết luận: Tỉ lệ mắc bệnh thận mạn ở bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu của chúng tôi là 15.32% và tuổi là yếu tố nguy cơ mắc bệnh thận mạn.
3 Khảo sát mối tương quan giữa loãng xương và một số yếu tố ở bệnh nhân bệnh thận mạn chưa lọc máu / Hoàng Ngọc Diệu Trâm, Nguyễn Hoàng Thanh Vân // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 49 - 55 .- 610
Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan giữa loãng xương và các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng trên bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn 3-5 chưa lọc máu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang gồm 101 bệnh nhân tại Khoa Nội Thận - Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2021 đến tháng 6/2023. Mật độ xương được đo bằng phương pháp hấp phụ tia X năng lượng kép. Kết quả: Mật độ xương giảm dần theo tuổi. Mật độ xương ở nữ thấp hơn nam và ở nữ giới mãn kinh thấp hơn nữ giới chưa mãn kinh. Theo tiêu chuẩn phân loại của WHO, loãng xương ở cột sống thắt lưng, cổ xương đùi, toàn bộ xương đùi có tỷ lệ lần lượt là 53,5%, 7,9%, 21,8%; thiếu xương ở cột sống thắt lưng, cổ xương đùi, toàn bộ xương đùi có tỷ lệ lần lượt là 23,8%, 24,8%, 40,6%. Tỷ lệ loãng xương trên bệnh nhân bệnh thận mạn tính dựa vào điểm cắt mật độ xương < 0,625 g/cm2 ở cột sống thắt lưng, cổ xương đùi, toàn bộ xương đùi lần lượt là 19,8%, 30,7%, 29,7%. Mật độ xương tương quan nghịch với tuổi ở 3 vị trí đo. Mật độ xương tại cột sống thắt lưng tương quan thuận với BMI (r = 0,206). Mật độ xương tại mỗi đốt sống thắt lưng có mối tương quan nghịch với điểm canxi hóa động mạch chủ bụng từng phân đoạn tương ứng theo thang điểm Kauppila (p < 0,001). Mật độ xương toàn bộ xương đùi tương quan nghịch với phospho (r = -0,209), tích canxi × phospho (r = -0,242) và PTH (r = -0,231). Kết luận: Tỷ lệ thiếu xương và loãng xương ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính cao. Mật độ xương có mối tương quan nghịch với tuổi. Mật độ xương cột sống thắt lưng tương quan thuận với BMI, tương quan nghịch với điểm canxi hóa động mạch chủ bụng. Mật độ xương toàn bộ xương đùi tương quan nghịch với phospho, tích canxi × phospho và PTH.
4 Nghiên cứu sự ảnh hưởng của cao khô “thăng thanh giáng trọc” lên một số chỉ số máu của chuột trên mô hình bệnh thận mạn cắt 5/6 thận chuột / // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 1 .- Số 3 .- Tr. 179 - 184 .- 610
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của cao khô “Thăng thanh giáng trọc” lên một số chỉ số máu của chuột trên mô hình bệnh thận mạn cắt 5/6 thận chuột. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Chuột cống trắng chủng Wistar, giống đực, trưởng thành, khoẻ mạnh, trọng lượng từ 200 – 250g. Các chuột thí nghiệm được cung cấp bởi Ban động vật - Học viện Quân y. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tác dụng của cao khô “Thăng thanh giáng trọc” trên mô hình bệnh thận mạn cắt 5/6 thận chuột. Kết quả: Sau 60 ngày uống cao khô “Thăng thanh giáng trọc”: So với lô mô hình, nồng độ ure huyết thanh của chuột ở các lô uống thuốc giảm có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Nồng độ ure huyết thanh của chuột ở lô Thăng thang giáng trọc 2 (TTGT-2) giảm nhiều nhất, và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với ở lô Thăng thang giáng trọc 1 (TTGT-1) (p < 0,05). So với lô mô hình, nồng độ creatinin huyết thanh của chuột ở các lô uống thuốc giảm có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Nồng độ creatinin huyết thanh của chuột ở lô TTGT-2 giảm nhiều nhất, và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với ở lô TTGT-1 (p < 0,05). So với lô mô hình, số lượng hồng cầu máu chuột và hàm lượng huyết sắc tố máu chuột ở các lô dùng thuốc tăng, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Hematocrit máu chuột ở các lô khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết luận: Cao khô “Thăng Thanh Giáng Trọc” ở các liều dùng đã thể hiện tác dụng giảm nồng độ ure và creatinin huyết thanh, tăng các chỉ số huyết học của chuột trên mô hình chuột gây bệnh thận mạn.





