CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

  • Duyệt theo:
1 Ứng dụng trị số ure-nitơ trong tiên lượng tử vong của đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính / Hứa Tấn An, Bùi Thế Dũng, Nguyễn Viết Hậu, Trương Quang Bình // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 123 - 128 .- 610

Đánh giá mối liên quan giữa trị số urenitơ máu (BUN) với nguy cơ tử vong nội viện và giá trị tiên lượng của BUN trong tiên lượng kết cục ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu đoàn hệ, thực hiện tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ 01/2022–12/2024. Tất cả bệnh nhân ≥18 tuổi nhập viện vì đợt cấp COPD được phân tích. Sử dụng hồi quy logistic và phương pháp bắt cặp theo điểm xu hướng để xác định vai trò tiên lượng tử vong của BUN. Kết quả: Có 521 bệnh nhân được phân tích, trong đó 33 trường hợp (6,3%) tử vong nội viện. Nguy cơ tử vong tăng 1,4 lần khi BUN tăng mỗi 1 mmol/L (p<0,001). Giá trị AUC của BUN là 0,87 (KTC 95%: 0,81–0,93). Ngưỡng BUN 8,83 mmol/L giúp xác định nguy cơ tử vong tăng 16 lần (p<0,001), với độ nhạy 76% và độ đặc hiệu 85%. Kết luận: BUN là yếu tố tiên lượng độc lập tử vong nội viện ở bệnh nhân đợt cấp COPD. Ngưỡng 8,83 mmol/L có giá trị ứng dụng lâm sàng trong phân tầng nguy cơ và định hướng xử trí.

2 Sự tuân thủ dùng thuốc ở người bệnh COPD điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Tỉnh Trà Vinh năm 2024 / Y học Thành phố Hồ Chí Minh // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 56-66 .- 610

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là nguyên nhân chính gây tàn phế và tử vong trên toàn cầu. Tuy nhiên, tỷ lệ người bệnh mắc COPD tuân thủ dùng thuốc chưa cao với nhiều yếu tố liên quan khác nhau. Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc và một số yếu tố liên quan ở người bệnh COPD điều trị ngoại trú tại bệnh viện Lao và bệnh Phổi tỉnh Trà Vinh năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 196 người bệnh điều trị ngoại trú bằng phỏng vấn trực tiếp với Bộ câu hỏi tuân thủ dùng thuốc (General Medication Adherence Scale). Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc của người bệnh COPD là 77,0%. Qua phân tích hồi qui logistic đa biến, tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc tăng liên quan đến niềm tin về sự cần thiết điều trị bằng thuốc ở mức độ cao (Adjusted Odds Ratio - AOR=10,7, 95% KTC: 2,9-38,7). Tuy nhiên, tác dụng phụ khi dùng thuốc liên quan đến giảm tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc (AOR=0,1, 95% KTC: 0,03-0,3). Kết luận: Người bệnh COPD nên được tư vấn sức khoẻ về sự cần thiết chế độ điều trị và hướng dẫn chăm sóc các tác dụng phụ của thuốc để cải thiện tuân thủ dùng thuốc.

3 Thực trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính / Nguyễn Đình Luân // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 8-16 .- 610

Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng gặp phổ biến ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) và có ảnh hưởng xấu đến tiến triển, nguy cơ đợt cấp và tiên lượng. Đánh giá và can thiệp kịp thời về dinh dưỡng giúp nâng cao hiệu quả quản lý người bệnh. SDD gặp với tỷ lệ cao ở người BPTNMT, đặc biệt ở nhóm D. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào chỉ số BMI, SGA, MNA là phương pháp không xâm lấn, dễ thực hiện và có tính chính xác cao. Mối liên hệ chặt chẽ giữa tình trạng SDD và nguy cơ của bệnh cho thấy tầm quan trọng của việc sàng lọc và can thiệp dinh dưỡng sớm trong việc quản lý BPTNMT.

4 Kiến thức và thực hành dự phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và một số yếu tố liên quan của người dân trên 40 tuổi tại thành phố Huế / // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 165 - 170 .- 610

Mô tả kiến thức, thực hành dự phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và tìm hiểu một số yếu tố liên quan của người dân từ 40 tuổi trở lên tại thành phố Huế. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 420 người dân từ 40 tuổi trở lên ở thành phố Huế. Kết quả: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đạt về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 23,6%; đối tượng nghiên cứu chưa có kiến thức đạt về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 76,4%. Có 18,6% đối tượng nghiên cứu có thực hành đạt về dự phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; đối tượng nghiên cứu chưa có thực hành đạt về dự phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 81,4%. Yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: nghề nghiệp, trình độ học vấn. Yếu tố liên quan đến thực hành dự phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: nhóm tuổi, nghề nghiệp và kiến thức về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

5 Đặc điểm nồng độ PCT và CRP huyết tương ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (AECOPD) điều trị nội trú tại Bệnh viện Phổi Trung ương / Nguyễn Thanh Hà, Đinh Văn Lượng // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 139 - 144 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ PCT và CRP huyết tương ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị nội trú tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 nhân được chẩn đoán xác định là AECOPD vào điều trị nội trú tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 11/2023 - 05/2024. Kết quả: Phần lớn là nam giới (91,5%), thuộc nhóm 60-79 tuổi (76,0%). Trung bình phần trăm FEV1 cao nhất ở GOLD 1 là 91,67 ± 8,12; thấp nhất ở GOLD 4 là 23,23 ± 4,59. Nồng độ CRP, PCT cao nhất ở mức độ I và GOLD 4 lần lượt là 85,9 (96,61 ± 59,29) mg/l; 3,03 (9,54 ± 46,10) ng/ml và 92,1 (107,71±53,03) mg/l; 4,06 (14,09 ± 67,53) ng/ml; thấp nhất ở mức độ III và GOLD 1 lần lượt là 56,95 (63,94 ± 36,22) mg/l; 0,25 (0,27 ± 0,20) ng/ml và 61,35 (64,23 ± 31,80) mg/l; 0,39 (0,29 ± 0,20) ng/ml, p < 0,05. Kết luận: CRP và PCT là các dấu ấn sinh học đáng tin cậy, phản ánh mức độ nặng và giai đoạn của AECOPD, hỗ trợ hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị.