CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Tiểu cầu

  • Duyệt theo:
1 Ảnh hưởng của các chỉ số huyết học trước gạn tách đến quá trình gạn tách và chất lượng khối tiểu cầu trên hệ thống có lọc bạch cầu và bù dịch tại trung tâm Truyền máu Chợ Rẫy / Lê Thị Thu Hà, Võ Nguyên Trung, Phạm Lê Nhật Minh, Vũ Trần Duy, Võ Quốc Việt, Nguyễn Việt Hải, Trần Minh Nhi, Bùi Lê Thảo Như, Trần Thanh Tùng, Võ Đình Lộc, Nguyễn Hoành Cường, Lê Hoàng Oanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 216 - 226 .- 610

Khảo sát các chỉ số huyết học (CSHH) trước tách của người hiến tiểu cầu (NHTC) trên hệ thống có lọc bạch cầu và bù dịch (AmiCORE). Khảo sát ảnh hưởng của các CSHH trước tách đến các thông số trong quá trình gạn tách và chất lượng khối tiểu cầu (KTC) thu được trên hệ thống gạn tách có lọc bạch cầu và bù dịch. Đối tượng và phương pháp: 134 NHTC trên hệ thống AmiCORE (500ml) từ tháng 11/2022 – 05/2023 tại Trung tâm Truyền máu Chợ Rẫy. Các CSHH được đo bằng hệ thống phân tích huyết học Beckman Coulter và chế phẩm KTC được sản xuất bằng máy gạn tách tiểu cầu AmiCORE. Kết quả: Có mối tương quan thuận yếu giữa Hematocrit (HCT) trước tách và thời gian tách, (r=0,189, p<0,05). Có mối tương quan thuận trung bình giữa HCT trước tách và thể tích máu xử lý, lượng ACD dùng (r=0,316, 0,308 và p<0,001). Platelet (PLT) trước tách có mối tương quan nghịch mạnh với thể tích máu xử lý, lượng Anticoagulant Citrate Dextrose (ACD) dùng, (r = -0,889, -0,876 và p<0,001). Có mối tương quan nghịch trung bình giữa PLT trước tách và thời gian tách, (r = -0,583, p<0,001). Mean Corpuscular Volume (MCV) trước tách có mối tương quan nghịch yếu với lượng NaCl sử dụng, (r = -0,219, p<0,001). Tỷ lệ KTC đạt tiêu chuẩn chất lượng (TCCL) ở nữ giới bằng 0,85 lần so với nam giới. Tỷ lệ KTC đạt TCCL ở nhóm HCT trên 46% bằng 1,09 lần so với nhóm HCT từ 38% - 46%. Có sự khác biệt giữa các nhóm HCT trước tách và Collection efficiency (CE), giữa các nhóm PLT trước tách và Collection rate (CR), (p<0,05). Kết luận: Có mối tương quan thuận giữa HCT và thời gian tách, thể tích máu xử lý, lượng ACD dùng. Ngược lại, có mối tương quan nghịch mạnh giữa PLT trước tách và thể tích máu xử lý, lượng ACD dùng. Có mối tương quan nghịch yếu giữa MCV và lượng NaCl sử dụng. Các yếu tố liên quan với tỷ lệ KTC đạt TCCL là giới tính, HCT. Nhóm NHTC có HCT từ 38-46% và PLT trên 350x109/L có CE và CR cao hơn. Nhóm NHTC có chỉ số PLT, MCV cao hơn và HCT thấp hơn có thể có hiệu suất gạn tách tốt hơn trên hệ thống AmiCORE.

2 Biểu hiện yếu tố tăng trưởng khi sử dụng fibrin giàu tiểu cầu trong điều trị viêm nha chu có tiêu xương theo chiều dọc / Nguyễn Việt Hà // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 324 - 329 .- 610

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá mức độ hiện diện của các yếu tố tăng trưởng (GFs) PDGF, VEGF và TGF-β1 trong dịch khe nướu khi sử dụng fibrin giàu tiểu cầu (A-PRF) trong điều trị viêm nha chu có tiêu xương theo chiều dọc. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu với thiết kế nửa miệng thực hiện trên 23 bệnh nhân (46 vị trí viêm nha chu có tiêu xương theo chiều dọc). Sang thương nha chu được phân chia ngẫu nhiên vào 2 nhóm: nhóm can thiệp có sử dụng A-PRF và nhóm chứng. Thu thập dịch khe nướu và đánh giá nồng độ các GFs PDGF, VEGF và TGF-β1 vào các ngày 0 (ngay trước phẫu thuật), ngày 1, 3, 7, 14, 21 và 30 sau phẫu thuật. Kết quả: Nồng độ GFs (PDGF-BB, VEGF và TGF-β1) ở nhóm có sử dụng A-PRF cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê ở giai đoạn sớm (ngày 1, ngày 3), ở các thời điểm ngày 7, 14, 21 và 30 sự khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05). Xu hướng phóng thích PDGF-BB, VEGF và TGF-β1 theo thời gian giống nhau trên cả hai nhóm: cao nhất ở ngày 1 sau phẫu thuật và giảm dần đến ngày 30. Kết luận: Các yếu tố tăng trưởng trong dịch khe nướu gia tăng ở giai đoạn sớm khi sử dụng fibrin giàu tiểu cầu trong điều trị viêm nha chu có tiêu xương theo chiều dọc, điều này cho thấy tiềm năng lớn trong tái tạo mô nha chu.

3 Khảo sát biến cố giảm tiểu cầu của linezolid tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai / Đỗ Thị Phương Dung // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 56 - 65 .- 610

Linezolid là kháng sinh dự trữ quan trọng trong điều trị nhiễm Gram dương kháng thuốc. Tuy nhiên, kháng sinh này có thể gây ra phản ứng có hại là giảm tiểu cầu. Việc phát hiện, mô tả các đặc điểm và xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến biến cố giảm tiểu cầu của linezolid là cơ sở trong việc sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả. Vì vậy, đề tài được thực hiện với mục tiêu khảo sát đặc điểm của biến cố giảm tiểu cầu và các yếu tố nguy cơ liên quan trên bệnh nhân sử dụng linezolid tại bệnh viện đa khoa Đồng Nai. Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 179 bệnh nhân sử dụng linezolid trong thời gian từ 01/01/2022 đến 31/12/2022 thỏa điều kiện nghiên cứu. Kết quả có 42 bệnh nhân (23,5%) gặp biến cố giảm tiểu cầu; hầu hết bệnh nhân giảm tiểu cầu ở mức độ nhẹ (57,1%). Thời gian điều trị với linezolid trung bình từ 8-14 ngày (57,1%). Tuổi, giới tính, độ lọc cầu thận ước tính trước khi dùng linezolid, thời gian điều trị, các can thiệp xâm lấn, lọc máu ngắt quãng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân giảm và không giảm tiểu cầu (p < 0,05). Phép kiểm hồi quy logistic đa biến cho thấy nguy cơ gặp biến cố giảm tiểu cầu tăng lên ở bệnh nhân có eGFR < 30 ml/phút/1,73 m2 (p < 0,001) và nhóm bệnh nhân điều trị linezolid 8-14 ngày (p = 0,001) và ≥ 15 ngày (p < 0,001). Do đó, cần theo dõi chặt chẽ số lượng tiểu cầu trên những đối tượng đặc biệt bao gồm bệnh nh