CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Tiếng Hàn--Ngữ pháp
1 Sự phát triển ngữ nghĩa của động từ ăn trong tiếng Việt và động từ meokda trong tiếng Hàn nhìn từ mô hình tri nhận lí tưởng / Hoàng Phan Thanh Nga // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 94-102 .- 495.7
Sự hình thành của các ý niệm này không phải là ngẫu nhiên và rập khuôn theo một nguyên tắc ngôn ngữ học nào đó mà nó đến từ sự trải nghiệm trong dòng chảy biến đổi của thời gian, tập quán xã hội và các yếu tố văn hóa dẫn đến sự tri nhận của người nói ngôn ngữ đó về các hiện tượng của cuộc sống. Trong bài viết này, tác giả phân tích sự phát triển ngữ nghĩa của động từ ăn trong tiếng Việt và động từ meokda trong tiếng Hàn nhìn từ mô hình tri nhận lí tưởng (idealized cognitive models - ICMs), từ đó xác lập nên cơ sở để lí giải một số hiện tượng ngôn ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hàn.
2 Phương thức biểu đạt tính lịch sự trong hành động ngôn từ nhờ vả bằng tiếng Hàn của người học Việt Nam (từ tư liệu thư điện tử/email) / Thân Thị Thúy Hiền // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 24-32 .- 495.7
Tự thân hành động ngôn từ nhờ vả có thể gây tổn thương thể diện của đối phương nên việc sử dụng hành động ngôn từ này của người bản ngữ cũng là cả một vấn đề. Nó đòi hỏi người nói cần phải sử dụng các chiến lược khác nhau để giảm thiểu đe dọa thể diện của đối tượng giao tiếp. Trong nghiên cứu này, chúng tôi cách biểu đạt tính lịch sự trong HĐNT nhờ vả vả bằng tiếng Hàn của người học Việt Nam học tiếng Hàn.
3 Phương án trình bày biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng trong giáo trình tiếng Hàn / Lê Thu Phương, Ngô Thị Vân Anh // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 103-111 .- 495.7
Nghiên cứu này cho rằng, việc giảng dạy các biểu hiện bị động tập trung vào ý nghĩa và chức năng nên được thực hiện trong thực tế tại các cơ sở giáo dục, nhằm nâng cao năng lực ngữ pháp và khả năng tiếng Hàn của người học. Dựa trên phân tích về hình thức và chức năng của các biểu hiện bị động đã được đề cập trước đó, cũng như nội dung kiểm tra giáo trình tiếng Hàn, người viết đề xuất các phương án bổ sung nội dung biểu hiện bị động trong giáo trình tiếng Hàn.
4 So sánh đối chiếu đặc điểm ngữ pháp và cấu trúc diễn ngôn văn bản tư pháp giữa tiếng Việt và tiếng Hàn (qua khảo sát bản án và quyết định của Tòa án) / Hoàng Thị Hải Anh, Đỗ Phương Lâm // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 78-86 .- 495.7
Phân tích đối chiếu đặc điểm ngữ pháp và cấu trúc diễn ngôn của văn bản tư pháp trong tiếng Việt và tiếng Hàn, tập trung vào hệ thống bản án và quyết định của Tòa án hai nước trong giai đoạn 2021-2026. Trên cơ sở ngữ liệu khảo sát gồm 50 bản án thuộc ba loại hình hình sự, dân sự và hành chính, bài báo lần lượt phân tích sự tương đồng và khác biệt ở hai cấp độ: cú pháp, ngữ pháp (trật tự từ, cấu trúc câu phức, thể thụ động, hệ thống liên kết mệnh đề) và phong cách chức năng, khuôn mẫu diễn ngôn (cấu trúc văn bản, trình tự lập luận pháp lí, hệ thống kính ngữ).
5 Lỗi dùng sai trật tự từ trong danh ngữ tiếng Hàn Quốc của sinh viên chuyên ngành tiếng Hàn bậc đại học / Nguyễn Thanh Thủy // .- 2025 .- Số 5 (391) .- Tr. 41-52 .- 400
Nghiên cứu khảo sát lỗi sai trật tự từ trong danh ngữ tiếng Hàn của sinh viên chuyên ngành tiếng Hàn bậc đại học tại Việt Nam. Trên cơ sở lý thuyết về lỗi ngôn ngữ và cấu trúc danh ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hàn, nghiên cứu phân tích các lỗi điển hình mà người học thường gặp khi sắp xếp danh ngữ tiếng, ví dụ như lỗi sắp xếp trật tự giữa số từ và danh từ, lỗi sắp xếp danh từ chỉ loại và danh từ đơn vị, lỗi diễn đạt trong cụm danh ngữ có nhiều thành phần... Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của cấu trúc tiếng mẹ đẻ là nguyên nhân chính dẫn đến các lỗi về trật tự từ, đặc biệt trong việc xác định thứ tự định ngữ và danh từ trung tâm. Từ đó, tác giả đề xuất một số dạng bài tập hỗ trợ người học khắc phục lỗi, nâng cao nhận thức về khác biệt cấu trúc giữa hai ngôn ngữ. Nghiên cứu không chỉ góp phần hoàn thiện phương pháp giảng dạy tiếng Hàn tại Việt Nam mà còn mở rộng hướng tiếp cận nghiên cứu lỗi ngôn ngữ trong bối cảnh song ngữ.
6 Nhận thức của sinh viên về câu bị động và bị động từ tiếng Hàn / Dương Thảo Tiên // .- 2024 .- Vol 7 (N03) .- Tr. 309-320 .- 495.7
Câu bị động trong tiếng Hàn được sử dụng phổ biến ở cả hình thức nói và viết, tuy nhiên nó lại được xem là cấu trúc khá phức tạp và khó sử dụng. Bài báo này phân tích, đánh giá mức độ ghi nhớ và ứng dụng về ‘bị động từ của câu bị động’ thông dụng và được biết đến nhiều nhất trong các giáo trình tiếng Hàn như bị động với hậu tố (-이/히/리/기), bị động với cú pháp (-아/어지다) và bị động với từ vựng (-되다/받다/당하다) của sinh viên năm 2 Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Hàn Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế bằng việc khảo sát nhận thức về độ khó, tần suất xuất hiện, khả năng ứng dụng, tầm quan trọng của câu bị động thông qua bảng hỏi. Sau khi thu thập và xử lý số liệu, tác giả đã đưa ra các đề xuất dành cho giảng viên, sinh viên phương pháp dạy và học hiệu quả. Qua đó, tác giả hy vọng rằng, có thể góp phần giúp sinh viên Việt Nam học tiếng Hàn có cái nhìn rõ nét hơn về cách hình thành của bị động từ trong câu bị động tiếng Hàn.
7 Tần suất hiện thực hóa các loại ý nghĩa của trợ từ cách ‘의’ trong văn viết tiếng Hàn / Lê Anh Phương // .- 2023 .- Vol 7 (N2) .- Tr. 205-217 .- 400
Cấu trúc “NP1 의 NP2” có thể được chia làm rất nhiều loại dựa trên mối quan hệ về mặt ý nghĩa của danh từ/ cụm danh từ đứng trước và đứng sau “의”. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thủ pháp bóc tách nguồn ngữ liệu, từ đó khảo sát và thống kê tần suất hiện thực hoá các loại quan hệ ý nghĩa giữa NP1 và NP2 trong cấu trúc “NP1 의 NP2” trong các đề kỹ năng Đọc TOPIK II dựa theo quan điểm của Park (2008). Qua nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng cung cấp một nguồn tư liệu tham khảo hữu ích về cấu trúc “NP1 의 NP2” trong tiếng Hàn cho người dạy và người học, giúp họ nhận thức được những loại ý nghĩa thông dụng và thường được sử dụng nhất của cấu trúc này, từ đó có chiến lược sử dụng phù hợp và hiệu quả.
8 Nghiên cứu nội dung giảng dạy văn hóa Hàn Quốc cho sinh viên ngành tiếng Hàn dựa trên nghiên cứu của Kim Jinho / Trần Thị Vân // .- 2024 .- Số 05(66) .- Tr. 203-210 .- 306
Nnghiên cứu về nội dung giảng dạy cụ thể và đưa ra bố cục các bài học văn hóa từ chương 7 đến chương 9 của giáo trình về văn hóa Hàn Quốc. Kết quả nghiên cứu này sẽ có những đóng góp thiết thực trong quá trình giảng dạy văn hóa Hàn Quốc với tư cách là tài liệu tham khảo.
9 Kiêng kị ngôn ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hàn / Trần Văn Tiếng, Nguyễn Thị Kim Ngọc // .- 2023 .- Volume 8 (N1) - Tháng 9 .- Tr. 19-25 .- 495.78
Kiêng kị ngôn ngữ (language taboo) là hiện tượng phổ biến trong mọi ngôn ngữ. Biểu hiện của hiện tượng này là trong khi giao tiếp, người ta cần kiêng kị, cần tránh nói ra những từ ngữ có thể làm người nghe bị xúc phạm, khó chịu. Những từ ngữ kiêng kị khi dùng có thể làm cho cuộc thoại chuyển sang hướng tiêu cực, bất lợi, do vậy người ta cần phải nói tránh đi bằng cách sử dụng một từ ngữ khác. Kiêng kị ngôn ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ khá phức tạp có liên quan đến các yếu tố văn hóa dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán. Việc tránh dùng những từ ngữ kiêng kị thể hiện cách ứng xử ngôn từ trong các tình huống giao tiếp. Tìm hiểu từ ngữ kiêng kị trong tiếng Việt và tiếng Hàn giúp ta thấy được những điểm tương đồng và dị biệt về văn hóa dân tộc, về cách sử dụng từ ngữ thay thế các từ kiêng kị trong tiếng Việt và tiếng Hàn, tránh được những "cú sốc văn hóa” khi giao tiếp.
10 Đặc điểm và phương thức cấu tạo từ tạo mới tiếng Hàn (trọng tâm từ tạo mới tiếng Hàn liên quan đến covid-19) / Đỗ Phương Thùy, Nguyễn Thị Thúy Ngà // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2022 .- Số 4(324) .- Tr. 78-86 .- 495.7
Bước đầu tìm hiểu về từ tạo mới tiếng Hàn liên quan đến Covid-19 ở phương diện đặc điểm, cũng như tổng hợp phân tích các phương thức hình thành lớp từ này.