CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Ho ra máu--Điều trị
1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ho ra máu được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung ương / Đinh Văn Lượng, Trịnh Thị Hằng, Hoàng Thuỷ // .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 76 - 80 .- 610
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ho ra máu được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung Ương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, trên 205 người bệnh ≥16 tuổi, được phẫu thuật ho ra máu, tại Bệnh viện Phổi Trung ương, từ tháng 1/2018 đến tháng 12 năm 2023. Kết quả: Tuổi trung bình là 50 tuổi, nam giới chiếm 76%. Có 41% các bệnh nhân có tiền sử ho ra máu trước khi nhập viện, đa số các bệnh nhân có tiền sử bệnh phổi trước đó, trong đó hay gặp nhất là lao phổi, chiếm 55.6%. Thời gian từ lúc ho ra máu đến khi nhập viện trung bình là 15 ngày Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, có 99 bệnh nhân ho ra máu mức độ nhẹ, chiếm tỷ lệ 48.3%, có 58 bệnh nhân ho ra máu mức độ trung bình, chiếm tỉ lệ 28.3%, có 47 bệnh nhân ho ra máu mức độ nặng, chiếm tỉ lệ 22.9%. Tổn thương mô bệnh gặp nhiều nhất là nấm Aspergillus (chiếm 40.5%), đứng thứ 2 là viêm lao và giãn phế quản, chiếm lần lượt 22,9% và 16.1%. Hình ảnh tổn thương trên cắt lớp vi tính khá đa dạng, 3 tổn thương hay gặp nhất là nốt, đông đặc và u nấm, với tỉ lệ lần lượt là 33.7%, 41.5%, 48.3%. Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, có 109 bệnh nhân có bất thường mạch, chiếm tỷ lệ 53.2% tổng số bệnh nhân. Tổn thương mạch máu chủ yếu ở hệ động mạch phế quản. Các hình thái tổn thương mạch: giãn cuống, tăng sinh, thân xoắn vặn, giả phình. Tổn thương hay gặp nhất là giãn cuống (84/109 bệnh nhân có tổn thương mạch). Tổn thương dạng xoắn vặn thân mạch máu và giả phình ít gặp hơn. Kết luận: Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 50. Số bệnh nhân nam chiếm tỉ lệ 76.1%. Có 41% số bệnh nhân có tiền sử ho ra máu trước khi nhập viện. Có 55.6 % bệnh nhân có tiền sử bệnh lao phổi trước đó. Thời gian từ lúc ho ra máu đến khi nhập viện trung bình là 15 ngày. Mức độ ho ra máu: nhẹ (99 bệnh nhân, chiếm 48.3%), trung bình (58 bệnh nhân, 28.3 %), nặng (47 bệnh nhân, 22.9%). Tổn thương trên cắt lớp vi tính rất đa dạng, 3 tổn thương hay gặp nhất là nốt đông đặc, hang. Tổn thương mạch hay gặp nhất là giãn cuống.
2 Cấp máu bất thường đến nhu mô phổi bình thường từ tuần hoàn hệ thống: Nhân 2 trường hợp khám và điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương / Hoàng Văn Lương, Bùi Thanh Hiếu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 119 - 123 .- 610
Cấp máu bất thường đến nhu mô phổi bình thường từ tuần hoàn hệ thống là một dị dạng mạch hiếm gặp, đặc trưng bởi sự tưới máu bổ sung từ động mạch hệ thống đến một thùy hoặc phân thùy phổi mà ở đó các cấu trúc phế quản cũng như hệ động - tĩnh mạch hoàn toàn bình thường. Tình trạng này thường được phát hiện tình cờ do bệnh diễn biến âm thầm, không có triệu chứng rõ ràng hoặc chỉ biểu hiện bằng các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu. Việc chẩn đoán sớm và chính xác đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp và phòng ngừa các biến chứng, đặc biệt là ho ra máu và tử vong. Chúng tôi báo cáo hai trường hợp được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương với các triệu chứng lâm sàng không điển hình. Cả hai trường hợp đều được chẩn đoán trước mổ là phổi biệt lập, tuy nhiên kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật cho thấy nhiều đặc điểm phù hợp hơn với chẩn đoán cấp máu bất thường đến nhu mô phổi bình thường. Từ đó, chúng tôi mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp để phát hiện sớm và chẩn đoán chính xác những trường hợp như vậy, góp phần hạn chế các biến chứng và cải thiện tiên lượng cho người bệnh.
3 Đánh giá kết quả phẫu thuật Plombage điều trị ho ra máu do u nấm phổi Aspergillus / Lê Tiến Dũng, Nguyễn Văn Nam // .- 2017 .- Số 2 .- Tr. 34-38 .- 610
Đánh giá kết quả phẫu thuật Plombage điều trị ho ra máu do u nấm phổi Aspergillus trên 66 bệnh nhân tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong thời gian 5 năm từ 2011-2015. Tỷ lệ nam/ nữ là 3,7; đô jtuooir trung bình là 53,5; thời gian mổ trung bình là 2,33 giờ. Có 1 trường hợp tử vong ngày thứ 10 sau phẫu thuật do suy hô hấp, sau 12 tháng có 96,9 phần trăm trường hợp hết ho ra máu.





