CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Ghép gan
1 Nghiên cứu tình trạng nhiễm trùng sau ghép gan / Nguyễn Xuân Hà, Trần Ngọc Ánh, Lê Văn Thành // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 100 - 104 .- 610
Ghép gan là biện pháp điều trị triệt căn với các bệnh nhân có bệnh gan mạn tính ở các nước phát triển và ngày càng phát triển mạnh mẽ tại Việt nam. Ức chế miễn dịch toàn thân khiến người nhận gan dễ bị nhiễm trùng mới cũng như tái hoạt các nhiễm trùng tiềm ẩn đã có từ trước. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến tính trạng nhiễm trùng sau ghép gan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu và tiến cứu được thực hiện trên 205 bệnh nhân được ghép gan tại Bệnh viện TWQĐ 108 từ năm 2024 đến tháng 6 năm 2025. Tiêu chí xác định nhiễm trùng dựa theo khuyến cáo EASL 2013. Chẩn đoán cụ thể các loại nhiễm trùng thường gặp (viêm phổi, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng ổ bụng, nhiễm trùng huyết, v.v.) được xác định theo tiêu chuẩn Bộ Y tế và hướng dẫn quốc tế. Kết quả: Tuổi trung bình: ≈57,6 ± 11,4, Tỷ lệ nam giới: ≈85,4%. Các chỉ định ghép gan phổ biến: Suy gan cấp trên nền bệnh gan mạn tính. ACLF (35%), Ung thư biểu mô tế bào gan (30%), Xơ gan (25%). Tỷ lệ nhiễm trùng sau ghép gan là 94.6%. Trong đó: Viêm phổi (38%) và nhiễm trùng khác (54%) là các dạng nhiễm trùng phổ biến nhất. Tử vong do nhiễm trùng chiếm 7.7%. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhiễm trùng và các yếu tố: giới, tuổi, điểm MELD và Child-Pugh (p > 0.05). Kết luận: Nhiễm trùng là biến chứng phổ biến và đáng lưu ý sau ghép gan, trong đó viêm phổi và nhiễm trùng huyết chiếm tỷ lệ cao. Cho thấy cần theo dõi sát và kiểm soát nhiễm trùng bằng các biện pháp chăm sóc tích cực ngay sau phẫu thuật.
2 Biến đổi giải phẫu mảnh ghép gan phải từ người hiến sống tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 / Nguyễn Vũ Quang, Lê Văn Thành, Trần Hiếu Học // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 353 - 357 .- 610
Mô tả biến đổi giải phẫu của mảnh ghép gan phải từ người hiến sống. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả đặc điểm 55 mảnh ghép gan phải từ người hiến sống từ tháng giai đoạn 01/2022 đến tháng- 12/2022 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được mô tả biến đổi giải phẫu của mạch máu và đường mật. Tất cả người bệnh được thực hiện phẫu thuật theo một quy trình thống nhất. Kết quả: Có 55 trường hợp gồm 29 nam và 26 nữ tham gia nghiên cứu. Tỉ lệ người bệnh có biến đổi giải phẫu về tĩnh mạch cửa, đường mật, động mạch gan lần lượt là 5,5%; 10,9%; và 25,5%. Về tĩnh mạch cửa, có 2 trường hợp type B và 1 trường hợp type C. Về đường mật, tỉ lệ type 3a, 3b, 4a, 4b lần lượt là 1,8%; 3,6%; 1,8% và 3,6%. Về động mạch gan, có 4 trường hợp type 3b và 3 trường hợp type 2a. Về tĩnh mạch gan, chủ yếu gặp type 4a và 4b với tỉ lệ lần lượt là 50,9% và 40,0%. Kết luận: Mảnh ghép gan hiến có tỉ lệ cao biến đổi giải phẫu về tĩnh mạch gan, động mạch gan, tỉ lệ thấp về tĩnh mạch cửa và đường mật.
3 Sử dụng động mạch lách để tái tạo động mạch gan trong ghép gan từ người hiến sống cho trẻ em: Báo cáo một trường hợp / Phạm Duy Hiền, Nguyễn Lý Thịnh Trường, Vũ Mạnh Hoàn, Nguyễn Phạm Anh Khoa, Trần Anh Quỳnh, Trần Đức Tâm, Nguyễn Thọ Anh, Trần Xuân Nam, Nguyễn Công Sơn, Phạm Thị Hải Yến, Phan Hồng Long // .- 2025 .- Tập 187 - Số 2 .- Tr. 333-342 .- 610
Chuyển vị động mạch lách là một kỹ thuật hiệu quả để tái tạo động mạch trong ghép gan từ người hiến sống, đặc biệt khi động mạch gan của người nhận không phù hợp để khâu nối. Chúng tôi báo cáo một trường hợp trẻ nữ 12 tuổi chẩn đoán: Suy gan cấp/ Bệnh Wilson được phẫu thuật ghép gan từ người hiến sống, sử dụng kỹ thuật chuyển vị động mạch lách để thay thế động mạch gan do tổn thương lóc tách nội mạc.
4 Đánh giá kết quả ban đầu ghép gan người lớn từ người sống cho gan tại Bệnh viện Chợ Rẫy / Phạm Hữu Thiện Chí, Đoàn Tiến Mỹ, Lê Trường Chiến // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2017 .- Số 4 .- Tr. 108-113 .- 610
Có 2 trường hợp ghép gan do xơ gan giai đoạn cuối trong 2 năm 2012-2013 tại bệnh viện Chợ Rẫy. Cả 2 đều được ghép từ gan phải của người cho. Thể tích gan còn lại ở người cho là 36,53 phần trăm và 33,5 phần trăm. Tỷ số cân nặng mảnh ghép/ cân nặng bệnh nhân là 1,34 và 1,36. Một trường hợp phải mổ lại cầm máu vì chảy máu sau mổ vùng đuôi tụy sau cắt lách kèm theo, ở trường hợp còn lại, diễn tiến sau ghép ổn định. Hai người cho đều an toàn, sinh hoạt bình thường, gan tái sinh sau mổ tốt.





