CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Tế bào gốc

  • Duyệt theo:
1 Đánh giá tình trạng nhiễm trùng huyết tại đơn vị Ghép tế bào gốc- khoa Huyết học - bệnh viện Chợ Rẫy từ năm 2017 đến 6 tháng đầu năm 2024 / Trần Thanh Tùng, Trương Phạm Hồng Diễm, Nguyễn Thị Ngọc Sang // .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 260 - 267 .- 610

Đánh giá tình trạng nhiễm trùng của bệnh nhân tại đơn vị Ghép tế bào thuộc khoa Huyết học tại bệnh viện Chợ Rẫy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng được thực hiện cấy bệnh phẩm với kết quả dương tính điều trị tại Khoa huyết học, bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1/2018 đến hết tháng 6/2024. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca. Kết quả: Chúng tôi ghi nhận được 33 bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng với 37 kết quả cấy dương tính trong tổng số 314 lượt nhập viện (10,5%). Bệnh nhân nam chiếm 42,4%. Tuổi trung vị là 38 (27-53) tuổi. Đa số tác nhân được phân lập là vi khuẩn gram âm (81,8%), trong đó nhiều nhất là Klebsiella pneumoniae đa kháng, tiếp đến là Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa với tỉ lệ lần lượt là 45,5%, 27,3%, 12,1%. Tỉ lệ Klebsiella pneumoniae và E.coli đề kháng với carbapenem lần lượt là 80,0% và 22,0%. Tác nhân gram dương chiếm 15,2% gồm ba loại chính là Streptococcus spp. (9,1%), Staphylococcus aureus (3,0%) và Staphylococcus epidermidis (3,0%), tất cả còn nhạy với vancomycin. Có 1 trường hợp cấy máu dương tính với vi nấm Candida tropicalis. Phần lớn bệnh nhân có chỉ số CRP tăng với giá trị trung vị là 99,1 (4,2 - 324) (mg/L) và giá trị procalcitonin không tăng với giá trị trung vị là 0,33 (0,07 – 18,3) (ng/ml). Tỉ lệ tử vong liên quan nhiễm trùng là 30,3%. Kết luận: Tỉ lệ nhiễm trùng huyết có phân lập được tác nhân gây bệnh tại đơn vị Ghép tế bào gốc- khoa Huyết học- Bệnh viện Chợ Rẫy là 10,5% lượt nhập viện. Tác nhân vi khuẩn thường gặp nhất là gram âm, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là K. pneumoniae đa kháng. Tỉ lệ tử vong liên quan nhiễm trùng là 30,3%.

2 Chất lượng khối tế bào gốc máu ngoại vi sau bảo quản đông lạnh tại Ngân hàng tế bào gốc - Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương giai đoạn 2014 – 2023 / Đỗ Quang Linh, Nguyễn Bá Khanh, Lê Xuân Thịnh, Trần Ngọc Quế, Nguyễn Hà Thanh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- .- 610

Đánh giá chất lượng của khối tế bào gốc tạo máu từ máu ngoại vi sau rã đông tại Ngân hàng Tế bào gốc – Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2014-2023. Đối tượng và phương pháp: Chúng tôi lựa chọn 21 mẫu TBG máu ngoại vi được rã đông sau bảo quản đông lạnh không còn chỉ định ứng dụng lâm sàng được lưu trữ tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương từ 2014-2020. Kết quả: Đánh giá 21 đơn vị TBG máu ngoại sau rã đông, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ đối tượng người hiến là nam giới chiếm 85,70%. Khối TBG sau rã đông có tỷ lệ sống của tế bào đánh giá bằng phương pháp Xanhtrypan đạt 70,00%, tỷ lệ sống của tế bào CD34+ đạt 78,20%, tỷ lệ phục hồi tế bào CD34+ đạt 84,52%. Tất cả các mẫu đều còn nguyên vẹn sau quá trình lưu trữ và có tạo cụm sau nuôi cấy tế bào. Tỷ lệ sống của tế bào CD34+ và tỷ lệ phục hồi của tế bào CD34+ đều có xu hướng giảm dần theo số năm bảo quản. Kết luận: Quá trình đánh giá chất lượng mẫu TBG máu ngoại vi sau rã đông được bảo quản tại Ngân hàng Tế bào gốc cho kết quả tốt, phù hợp để sử dụng cho bệnh nhân.

3 Ứng dụng chất tiết tế bào gốc trung mô trong da liễu thẩm mỹ / Lê Hà Phương, Kim Ngân // .- 2024 .- Tập 180 - Số 07 .- Tr. 137-155 .- 610

Lão hóa là một quá trình sinh học tất yếu ở mọi sinh vật sống. Trong những năm gần đây, các phương pháp chống lão hóa đã nhanh chóng phát triển để đáp ứng nhu cầu làm đẹp, tế bào gốc và các dẫn xuất của chúng đã trở thành một xu hướng tiềm năng trong lĩnh vực này. Tế bào gốc tiết ra các yếu tố tăng trưởng, cytokine, chemokine, yếu tố tạo mạch, peptide kháng khuẩn... đã được chứng minh là có tác động tích cực đến quá trình lão hóa da. Trong bài đánh giá này, chúng tôi tóm tắt cơ chế của các chất tiết từ tế bào gốc trong việc ngăn ngừa lão hóa da, phân lập và nuôi cấy tế bào gốc trung mô cũng như các quy trình chuẩn bị chất tiết. Ngoài ra, chúng tôi đề cập đến hiệu quả, hệ thống phân phối, khuyến nghị và triển vọng của các sản phẩm có nguồn gốc từ tế bào gốc. Tóm lại, so với các phương pháp điều trị chống lão hóa hiện có khác, chất tiết tế bào gốc có hiệu quả và tiềm năng vượt trội hơn. Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi các sản phẩm này chưa được khuyến khích do thiếu các thử nghiệm lâm sàng trên người về tính an toàn và ổn định của chúng.

4 Khảo sát thời gian mọc mảnh ghép hồng cầu ở bệnh nhân ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2019 - 2022 / Nguyễn Quang Tùng, Đỗ Hồng Ngọc // .- 2023 .- Tập 171 - Số 10 - Tháng 11 .- Tr. 321-330 .- 610

Cung cấp dữ liệu về thời gian mọc ghép hồng cầu giúp cho các bác sĩ lâm sàng có thể tiên lượng và đưa ra những quyết định liên quan đến truyền máu phù hợp với từng giai đoạn của cuộc ghép. Để khảo sát thời gian và tỷ lệ mọc ghép hồng cầu ở một số nhóm bệnh nhân ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài, nghiên cứu được tiến hành hồi cứu loạt ca bệnh trên 37 bệnh nhân thực hiện ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài.

5 Nghiên cứu chỉnh sửa gen trên tế bào gốc tạo máu bằng hệ thống crispr/cas9 / Vũ Thị Hà, Đoàn Thị Kim Phượng, Lương Thị Lan Anh, Nguyễn Văn Long, Bạch Huy Anh, Đào Ngọc Bắc, Trần Thị Huyền Trang, Nguyễn Việt Trung, Trần Đức Phấn // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2023 .- Tập 163(Số 2) .- Tr. 30-36 .- 610

Tế bào gốc tạo máu là tế bào hứa hẹn nhiều tiềm năng ứng dụng lâm sàng cho điều trị các bệnh về máu cũng như một số bệnh lý ung thư, tự miễn nói chung. Thu thập, chỉnh sửa gen ở tế bào gốc, nuôi cấy, tăng sinh tế bào gốc làm tiền đề cho các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng còn là thách thức của y học. Hệ thống Clustered Regularly Interspaced Short Palindromic Repeats và CRISPR-associated protein là công cụ đem lại hiệu quả chỉnh sửa gen cao và có triển vọng trong ứng dụng lâm sàng nhằm kiểm soát các gen quan tâm. Các tế bào gốc từ tế bào máu cuống rốn được thu thập với marker bề mặt CD34+CD38- bằng hệ thống máy đếm dòng chảy tế bào, gây đột biến gen đích bằng hệ thống trên, chỉnh sửa gen theo mục tiêu, nuôi cấy tăng sinh dòng tế bào đột biến.

6 Tế bào gốc từ tủy xương : đặc điểm, tiềm năng và ứng dụng trong điều trị biến chứng bệnh tiểu đường / Nguyễn Ngọc Hiếu, Nguyễn Chí Trường, Nguyễn Chí Toàn, Nguyễn Vân Hương, Ngô Thị Minh Thu, Lâm Phạm Phước Hùng // Khoa học Công nghệ Việt Nam - B .- 2022 .- Số 7(Tập 64) .- Tr. 28-33 .- 610

Nghiên cứu nhằm cung cấp một số thông tin về đặc điểm của các loại tế bào gốc từ tủy xương (BM) và vai trò của chúng ở bệnh tiểu đường (DM): chúng bị ảnh hưởng như thế nào bởi sự toàn vẹn của BM, tiềm năng và ứng dụng của tế bào gốc từ BM trong điều trị các biến chứng của DM. Tiểu đường (DM) là một bệnh mạn tính không lây, đang gia tăng nhanh chóng, nhất là ở những nước đang phát triển và trở thành gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Điều làm cho bệnh DM trở nên nghiêm trọng chính là các biến chứng của nó. Trong y học tái tạo, liệu pháp tế bào gốc được đánh giá là một phương pháp mới điều trị hiệu quả các biến chứng của DM. Tế bào gốc có nguồn gốc từ tủy xương (BM) được xem là một ứng cử viên sáng giá trong liệu pháp này. Tuy nhiên, bản thân BM cũng bị ảnh hưởng bởi bệnh lý DM vì nó có thể phát triển một bệnh lý vi mạch và bệnh thần kinh tương tự như các mô khác của cơ thể. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số phương pháp mới để tối ưu hóa liệu pháp tế bào gốc.

7 Tế bào gốc trung mô và ứng dụng trong điều trị đái tháo đường type 2 / Phạm Tấn Pháp, Lê Thị Bích Phượng // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 7(748) .- Tr. 47-49 .- 610

Nghiên cứu liệu pháp tế bào gốc trung mô (mesenchymal stem cell – MSC) nổi lên như là một ứng viên giàu tiềm năng, và còn giúp điều trị được nhiều bệnh lý khác. Đái tháo đường (ĐTĐ) là một nhóm bệnh lý rối loạn chuyển hóa thường gặp, biểu hiện đặc trưng bởi sự tăng đường huyết mạn tính. Tỷ lệ bị bệnh ĐTĐ đã gia tăng nhanh chóng trên thế giới, trong đó có Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hầu hết các trường hợp ĐTĐ diễn tiến mạn tính suốt phần đời còn lại và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế với những biến chứng cấp tính.

8 Đánh giá tác dụng chống viêm của cao đặc KNC thông qua tác dụng làm ổn định màng hồng cầu người và ức chế sản sinh NO trên tế bào RAW 264.7 / Đậu Xuân Cảnh, Hoàng Anh Qúy, Nguyễn Thị Ngọc, Nguyễn Hoàng Ngân // .- 2020 .- Số 64 .- Trang 36-45 .- 615

Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng chống viêm của cao đặc KNC thông qua tác dụng làm ổn định màng hồng cầu người và ức chế sản sinh NO trên tế bào RAW 264.7 được kích thích bởi LPS. Tác dụng làm ổn định màng hồng cầu của KNC được đánh giá thông qua đo hàm lượng huyết sắc tố sau khi gây nhược trương hỗn hợp thử nghiệm làm ly giải màng tế bào hồng cầu người. Cao đặc KCN có tác dụng chống viêm theo cơ chế làm bền vững màng tế bào và ức chế sản sinh NO của tế bào đại thực bào.

9 Đánh giá tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp ghép tế bào gốc tự thân cho trẻ tự kỷ tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City / // Y học thực hành .- 2018 .- Số 1 (1066) .- Tr. 2-5 .- 610

Đánh giá tính an toàn và hiệu quả của việc sử dụng tế bào gốc tự thân trong điều trị tự kỷ ở Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City.

10 Nghiên cứu tăng sinh và cảm ứng biệt hóa in vitro tế bào gốc trung mô màng bao dây rốn trẻ sơ sinh thành tế bào lắng động canxi nội bào / Lê Văn Đông // Kỷ yếu hội nghị khoa học (Kỷ niệm 17 năm thành lập Trường 11/1994 – 11/ 2011) .- 2011 .- Tr 140 – 145 .- 571.6

Giới thiệu khái quát về tế bào gốc, tế bào gốc trung mô, dây rốn, tế bào xương, các phương pháp nghiên cứu. Đồng thời, nghiên cứu này, nhằm mục đích thực hiện phổ biến trong ống nghiệm và giới thiệu sự khác biệt của tế bào rốn, tế bào gốc trung mô, tế bào xương.