CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Da liễu
1 Khả năng gây kích ứng da và ảnh hưởng toàn thân của Medicell Plus Premium bôi ngoài da trên mô hình gây bỏng nhiệt thực nghiệm / Trần Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thanh Loan, Trần Việt Anh, Trần Trung Kiên, Hoàng Yến Chi, Nguyễn Mai Anh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 741-750 .- 610
Nghiên cứu đánh giá khả năng gây kích ứng da của Medicell Plus Premium (MPP) trên thỏ và ảnh hưởng toàn thân của MPP bôi ngoài da trên chuột cống trắng bị bỏng nhiệt. Đánh giá khả năng gây kích ứng da được tiến hành theo hướng dẫn của OECD và ISO 10993-10. Chuột được gây bỏng nhiệt trên da lưng bằng dụng cụ kim loại, sau đó bôi MPP trong 21 ngày. Các chỉ số huyết học, sinh hóa, vi thể gan và thận của chuột được đánh giá. Kết quả nghiên cứu cho thấy MPP không gây kích ứng da trên thỏ. MPP liều 0,2 ml/lần, một hoặc hai lần/ngày không ảnh hưởng đến các chỉ số huyết học, mức độ hủy hoại tế bào gan, chức năng gan và chức năng thận. Ngoài ra, cấu trúc vi thể gan và thận của chuột của lô bôi MPP không có sự khác biệt rõ rệt so với lô chứng sinh học. Như vậy, MPP bôi ngoài da ở liều 0,2 ml/lần, một hoặc hai lần/ngày không gây độc tính toàn thân sau 21 ngày bôi thuốc thử trên mô hình gây bỏng thực nghiệm.
2 Mức độ kiểm soát bệnh, chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người bệnh mày đay mạn tính / Bùi Văn Dân, Bùi Bích Thảo, Trần Thị Mùi // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 475-482 .- 610
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá mức độ kiểm soát bệnh, chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người bệnh mày đay mạn tính (CU), mô tả cắt ngang trên 50 người bệnh CU khám ngoại trú tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2025 đến tháng 1/2026, áp dụng các bộ câu hỏi UAS7, UCT và CU-QoL để lượng giá tình trạng bệnh. Kết quả cho thấy nữ giới chiếm 58%, nhóm tuổi 18 - 39 chiếm ưu thế (66%). Đa số người bệnh ở tình trạng không kiểm soát bệnh (96%). Miền ảnh hưởng do ngứa và rối loạn giấc ngủ là hai khía cạnh chất lượng cuộc sống bị tác động nhiều nhất, với điểm CU-QoL lần lượt là 3,39 ± 0,95 và 2,78 ± 0,97. Nghiên cứu ghi nhận mối tương quan nghịch chặt chẽ giữa mức độ kiểm soát (UCT) và suy giảm chất lượng cuộc sống (r = -0,74; p < 0,001). Do đó, CU gây gánh nặng lớn lên chất lượng cuộc sống và khó kiểm soát hoàn toàn trong thực hành lâm sàng.
3 Mối liên quan của thang điểm CRISTEN và công thức máu với mức độ nặng trong hội chứng Stevens – Johnson/hoại tử thượng bì nhiễm độc / Bùi Văn Dân, Nguyễn Hoàng Phương, Nguyễn Minh Hoàng, Nguyễn Mạnh Hùng, Đinh Anh Duy, Trần Thị Huyền // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 449-456 .- 610
Hội chứng Stevens-Johnson (SJS) và hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN) là những phản ứng da - niêm mạc nặng với tỉ lệ tử vong cao. Thang điểm tiên lượng CRISTEN, đánh giá dựa trên 10 tiêu chí lâm sàng, và các chỉ số công thức máu có thể là giải pháp tối ưu chi phí trong việc theo dõi người bệnh. Nghiên cứu hồi cứu này được thực hiện dựa trên hồ sơ bệnh án 76 bệnh nhân SJS/TEN (32 SJS và 44 TEN) tại Bệnh viện Da liễu Trung ương và Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai trong 3 năm (2017 - 2019) nhằm khảo sát giá trị của thang điểm CRISTEN và công thức máu trong tiên lượng SJS/TEN. Kết quả cho thấy, nhóm TEN có số lượng bạch cầu và bạch cầu trung tính thấp hơn so với nhóm SJS (p = 0,003 và p = 0,019, tương ứng). Thang điểm SCORTEN và CRISTEN cho thấy khả năng dự đoán tình trạng nặng tốt (AUC = 0,857 và AUC = 0,815, tương ứng) và khả năng dự đoán thời gian nằm viện kéo dài khi kết hợp với chỉ số bạch cầu lympho và tiểu cầu (R2 = 0,199, p = 0,002 và R2 = 0,173, p = 0,006, tương ứng) trong phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Ứng dụng thang điểm SCORTEN, CRISTEN và kết quả công thức máu ngày đầu nhập viện có thể hỗ trợ đánh giá nguy cơ tình trạng nặng, thời gian nằm viện kéo dài trong SJS/TEN.
4 Xây dựng và thử nghiệm bộ cơ sở dữ liệu hình ảnh vảy nến nhằm huấn luyện AI chẩn đoán bệnh vảy nến / Nguyễn Trần Hải Ánh, Nguyễn Hữu Sáu, Nguyễn Long Giang // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 813-822 .- 610
Nghiên cứu nhằm xây dựng và thử nghiệm bộ cơ sở dữ liệu hình ảnh lâm sàng bệnh vảy nến nhằm huấn luyện trí tuệ nhân tạo hỗ trợ chẩn đoán bệnh vảy nến tại bệnh viện Da liễu Trung ương. Bộ cơ sở dữ liệu hình ảnh từ 1628 bệnh nhân vảy nến, gồm 23752 ảnh, trong đó số ảnh bệnh vảy nến thông thường là 10939 ảnh, vảy nến thể mủ là 6847 ảnh và vảy nến đỏ da toàn thân là 5966 ảnh. Mô hình AI được đào tạo dựa trên bộ cơ sở dữ liệu trên chẩn đoán vảy nến thông thường có độ nhạy 93,1% và độ đặc hiệu là 85,9%; với chẩn đoán bệnh vảy nến thể mủ có độ nhạy 85,9% và độ đặc hiệu là 93,1%. Độ chính xác của mô hình là 90,5%. Nghiên cứu đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu ảnh lâm sàng vảy nến với đầy đủ số lượng ảnh và đa dạng về các thể bệnh vảy nến. Kết quả thử nghiệm cho thấy mô hình AI có khả năng chẩn đoán bệnh vảy nến dựa trên ảnh lâm sàng.
5 Nồng độ huyết thanh Interleukin-15 trong hội chứng Stevens-Johnson/hoại tử thượng bì nhiễm độc / Trần Thị Huyền, Lê Huyền My // .- 2024 .- Tập 180 - Số 07 .- Tr. 129-136 .- 610
Hội chứng Stevens-Johnson (SJS) và hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN) là những phản ứng nặng, thường do thuốc, có biểu hiện ở da, niêm mạc. Một số yếu tố về gen và miễn dịch được cho là có liên quan tới SJS/TEN, trong đó có interleukin-15. Trong nghiên cứu này, kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang (fluorescence covalent microbead immunosorbent assay, ProcartaPlex Immunoassay Panels kit, Thermo Fisher Scientific, USA) được sử dụng để xác định nồng độ interleukin-15 trong huyết thanh của các bệnh nhân SJS/TEN và phân tích mối tương quan của nó với mức độ bệnh. Sử dụng Mann-Whitney U test để so sánh nồng độ huyết thanh interleukin-15 của hai nhóm, Spearman rank correlation test để đánh giá sự tương quan. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p-value < 0,05.
6 Ứng dụng chất tiết tế bào gốc trung mô trong da liễu thẩm mỹ / Lê Hà Phương, Kim Ngân // .- 2024 .- Tập 180 - Số 07 .- Tr. 137-155 .- 610
Lão hóa là một quá trình sinh học tất yếu ở mọi sinh vật sống. Trong những năm gần đây, các phương pháp chống lão hóa đã nhanh chóng phát triển để đáp ứng nhu cầu làm đẹp, tế bào gốc và các dẫn xuất của chúng đã trở thành một xu hướng tiềm năng trong lĩnh vực này. Tế bào gốc tiết ra các yếu tố tăng trưởng, cytokine, chemokine, yếu tố tạo mạch, peptide kháng khuẩn... đã được chứng minh là có tác động tích cực đến quá trình lão hóa da. Trong bài đánh giá này, chúng tôi tóm tắt cơ chế của các chất tiết từ tế bào gốc trong việc ngăn ngừa lão hóa da, phân lập và nuôi cấy tế bào gốc trung mô cũng như các quy trình chuẩn bị chất tiết. Ngoài ra, chúng tôi đề cập đến hiệu quả, hệ thống phân phối, khuyến nghị và triển vọng của các sản phẩm có nguồn gốc từ tế bào gốc. Tóm lại, so với các phương pháp điều trị chống lão hóa hiện có khác, chất tiết tế bào gốc có hiệu quả và tiềm năng vượt trội hơn. Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi các sản phẩm này chưa được khuyến khích do thiếu các thử nghiệm lâm sàng trên người về tính an toàn và ổn định của chúng.
7 Chuẩn hóa phiên bản tiếng Việt của thang đo thái độ tự kiểm tra da (SSEAS) / Nguyễn Thị Hà Vinh, Trần Hà Ngân, Phạm Bá Vĩnh, Phùng Thúy Linh, Hồ Ánh Sáng // .- 2025 .- Tập 189 - Số 4 .- Tr. 329-336 .- 610
Ung thư da là sự nhân lên mất kiểm soát của các tế bào bất thường ở da. Bệnh thường dễ bị bỏ sót, đặc biệt là ở những người có làn da sẫm màu. Nhằm mục đích phòng ngừa và sớm phát hiện ra ung thư da, mỗi người nên tự kiểm tra da thường xuyên một cách cẩn thận để nhận biết những thay đổi bất thường trên da có nguy cơ trở thành ung thư. Hiện tại ở Việt Nam chưa có thang đo nào đáng tin cậy để đánh giá thái độ tự kiểm tra da. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để chuyển ngữ và đánh giá độ tin cậy của thang đo Đánh giá thái độ tự kiểm tra da SSEAS (The Skin Self-Examination Attitude Scale) phiên bản tiếng Việt. Nghiên cứu được thực hiện trên 47 sinh viên trường Đại học Y Hà Nội trong tháng 12/2024. Khảo sát được thực hiện hai lần và kết quả được sử dụng để đo lường tính thống nhất nội bộ qua chỉ số Cronbach alpha và độ tin cậy thử nghiệm lại qua chỉ số tương quan nội bộ (Intra-Class Correlation - ICC) và hệ số tương quan Pearson.
8 MicroRNA-21 và sẹo teo sau mụn trứng cá: Nghiên cứu cắt ngang trên 70 bệnh nhân / Nguyễn Trần Thảo Nguyên, Nguyễn Ngọc Trai, Vũ Diễm My, Huỳnh Anh Phương, Châu Văn Trở // .- 2025 .- Tập 186 - Số 1 .- Tr. 123-131 .- 610
Sẹo teo là một di chứng phổ biến sau mụn trứng cá, ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ và chất lượng cuộc sống của người mắc. Cơ chế chính xác hình thành sẹo vẫn chưa sáng tỏ. Gần đây, trong bối cảnh sinh học phân tử phát triển, microRNA-21 được nhận diện là một yếu tố tiềm năng có liên quan mật thiết đến quá trình hình thành sẹo teo. Nhằm đánh giá mức độ biểu hiện microRNA-21 trong huyết tương và so sánh giữa nhóm bệnh nhân có và không có sẹo teo, chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 70 bệnh nhân mụn trứng cá tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 04/2024 đến tháng 09/2024. Nhóm nghiên cứu gồm 35 bệnh nhân có sẹo teo (nhóm A) và 35 bệnh nhân không có sẹo (nhóm B).
9 Tác dụng chống lão hóa da của viên nang HA11 trên động vật thực nghiệm / Phạm Thị Vân Anh , Nguyễn Bội Hương, Vu Tkhan Kha, Nguyễn Thị Thanh Hà // .- 2024 .- Tập 182 - Số 09 .- Tr. 189-198 .- 615
Xã hội càng phát triển, nhu cầu làm đẹp, đặc biệt là trẻ hóa làn da ngày càng được quan tâm. Các sản phẩm chăm sóc da có nguồn gốc từ thiên nhiên đã và đang được nghiên cứu với nhiều ưu điểm như tính sẵn có, ít tác dụng không mong muốn, chi phí chấp nhận được mà hiệu quả không thua kém những sản phẩm y học hiện đại trên thị trường. Viên nang HA11 là chế phẩm phối hợp 5 thành phần gồm curcumin, Vừng đen, Diếp cá, Tía tô và Hồng sâm, đều là các thành phần tự nhiên đã được chứng minh tác dụng chống oxy hóa, chống viêm, tăng collagen. Đề tài được thực hiện để cung cấp bằng chứng khoa học về tác dụng chống lão hóa da đường uống của chế phẩm viên nang HA11 trên động vật thực nghiệm. Tác dụng chống lão hóa da được nghiên cứu trên mô hình gây lão hóa da bằng D-galactose ở chuột nhắt trắng chủng Swiss. Chuột được tiêm dưới da D-galactose liều 1000 mg/kg và uống viên nang HA11 liều 0,42 g/kg/ngày, liều 1,26 g/kg/ngày hoặc vitamin C liều 100 mg/kg hàng ngày trong 42 ngày liên tục.
10 Mối liên quan giữa kháng thể kháng Topoisomerase I với tổn thương một số cơ quan trong bệnh xơ cứng bì hệ thống tại Bệnh viện Da liễu Trung ương / Đỗ Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Kim Tiên // .- 2024 .- Tập 66 - Số 5 - Tháng 5 .- Tr. 12-17 .- 610
Đánh giá mối liên quan giữa kháng thể kháng Topoisomerase I (Topo I) và tổn thương một số cơ quan trong bệnh xơ cứng bì hệ thống (XCBHT). Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 100 bệnh nhân được chẩn đoán xác định XCBHT và làm xét nghiệm tìm kháng thể kháng Topo I bằng kỹ thuật ELISA tại Bệnh viện Da liễu Trung ương.





