CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Đái tháo đường--Điều trị

  • Duyệt theo:
21 Tình trạng nha chu của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại bệnh viện trường Đại học Y dược Huế / Hồ Sỹ Minh Đức, Trần Xuân Phương // .- 2016 .- Số 0 .- Tr. 154 - 158 .- 610

Xác định tình trạng nha chu trên 94 bệnh nhân đái tháo đường typ2 tại bệnh viện trường Đại học Y dược Huế. Kết quả trung bình các chỉ số nha chu PII 1,90 cộng trừ 0,62; GI 1,42 cộng trừ 0,43; PPD 3,21 cộng trừ 1,40; CAL 3,38 cộng trừ 1,18. Tỷ lệ viêm nha chu của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 là 68,1 phần trăm. Tình trạng nha chu có mối liên quan với thời gian mắc bệnh đái tháo đường. Nồng độ HbA1c không có mối liên quan với thời gian mắc bệnh đái tháo đường.

22 Một số lưu ý khi điều trị đái tháo đường típ 2 ở người cao tuổi / Nguyễn Thị Mây Hồng, Nguyễn Phạm Như Đài, Cao Đình Hưng // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2019 .- Số 3 .- Tr. 6 - 11 .- 610

Đái tháo đường ở người cao tuổi là một thách thức lớn cho hệ thống y tế. Thầy thuốc cần đánh giá toàn diện bệnh nhân cao tuổi vốn có nhiều nguy cơ đa bệnh lý và nguy cơ suy giảm nhận thức. Điều trị đái tháo đường cần phải cá thể hoá để có mục tiêu phù hợp cho từng đối tượng. Đối với người đái tháo đường cao tuổi có ít bệnh lý đồng mắc và chức nhận thức còn nguyên vẹn, mục tiêu HbA1c < 7,5%; còn với những bệnh nhân nhiều bệnh đồng mắc và nhận thức suy giảm, mục tiêu HbA1c ít chặc chẽ hơn (HbA1c < 8,0-8,5%). Metformin là lựa chọn hàng đầu nếu không có chống chỉ định kết hợp thay đổi lối sống. Các thuốc nhóm khác nên được phối hợp nếu đường huyết vẫn không thể kiểm soát tốt. Đồng vận GLP-1 hay ức chế SGLT2 là ưu tiên nếu bệnh nhân có bệnh tim mạch do xơ vữa. Khi cần kiểm soát đường huyết bằng insulin, phác đồ đơn giản được ưa chuộng cho người cao tuổi là insulin nền một lần ngày kết hợp thuốc viên hạ đường huyết.

23 Mức độ hoạt động thể lực ở người bệnh đái tháo đường típ 2 và mối liên quan với sự tự tin hỗ trợ xã hội / Trần Thị Như Ngọc, Võ Nguyên Trung // .- 2018 .- Số 5 .- Tr. 141 - 145 .- 610

Bài viết xác định mức độ hoạt động thể lực của người bệnh đái tháo đường típ 2 và xác định mối liên quan giữa hoạt động thể lực với sự tự tin, hỗ trợ xã hội ở người bệnh đái tháo đường típ 2.

24 Hiệu quả giáo dục sức khỏe tự chăm sóc bàn chân ở người bệnh đái tháo đường typ 2 / Phạm Nguyễn Hồng Phúc, Ann Henderson, Võ Nguyên Trung // .- 2018 .- Số 5 .- Tr. 120 - 124 .- 610

Bài viết đánh giá hiệu quả chương trình giáo dục sức khỏe tự chăm sóc bàn chân ở người bệnh đái tháo đường typ 2 tại một bệnh viện tỉnh.

25 Tình hình đái tháo đường sau ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy / Hoàng Khắc Chuẩn, Trần Anh Vũ, Nguyễn Duy Điền // .- 2019 .- Số 3 .- Tr. 344 - 350 .- 610

Đái tháo đường sau ghép là một biến chứng nguy hiểm có liên quan đến tỉ lệ tử vong, bệnh tim mạch cũng như suy chức năng thận ghép sau ghép thận. Bài viết xác định tỉ lệ đái tháo đường sau ghép và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân được ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy.

26 Hội chứng dễ bị tổn thương ở người cao tuổi mắc đái tháo đường typ 2 / Hồ Thị Kim Thanh, Nguyễn Thị Minh Hải // .- 2017 .- Số 1 .- Tr. 109-115 .- 610

Khảo sát tỷ lệ mắc hội chứng dễ bị tổn thương ở 357 người cao tuổi mắc đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện Lão khoa Trung ương. Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc hội chứng dễ bị tổn thương cao, chiếm 49,86%. Nhóm bệnh nhân nội trú có tỷ lệ cao hơn nhóm bệnh nhân ngoại trú. Tỷ lệ mắc ở nữ cao hơn ở nam, tăng dần theo tuổi và cao nhất là ở nhóm trên 90 tuổi (83,33%). Số triệu chứng trung bình là 3,81 ± 0.63. Suy kiệt là kiểu hình thường gặp nhất (chiếm 31,45%), tiếp theo là giảm hoạt động thể lực (chiếm 21,43%). Người cao tuổi mắc đái tháo đường có tỷ lệ hội chứng dễ bị tổn thương cao.

27 Đánh giá kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose và kháng insulin ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn glucose lúc đói / Nguyễn Thị Hồng Vân, Phạm Thái Giang // .- 2017 .- Số 6 .- Tr. 39-44 .- 610

Đánh giá kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose và kháng insulin ở 230 bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn glucose lúc đói và so sánh với 230 người bình thường. Kết quả cho thấy tỷ lệ đái tháo đường, rối loạn dung nạp glucose ở nhóm tăng huyêt áp có rối loạn glucose máu lúc đói là 30,9% và 43% cao hơn so với nhóm chứng 7,0% và 27,8%. Kết quả insulin máu lúc đói ở nhóm nghiên cứu có giá trị trung bình là 13,09 + 11,76pU/ml, cao hơn ở nhóm chứng 6,57 ± 2,61pU/ml. Tỷ lệ kháng insulin theo HOMA-IR ở nghiên cứu là 64,8%, cao hơn nhóm chứng 24,8%. Tỷ lệ kháng insulin theo QUICKI của nhóm nghiên cứu là 63,9%, cao hơn nhóm chứng 24,8%.

28 Ảnh hưởng của phối hợp Ezetimibe và Simvastatin so với Simvastatin đơn trị ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương / Nguyễn Thu Hiền, Hoàng Trung Vinh, Nguyễn Vinh Quang // .- 2017 .- Số 1 .- Tr. 11-15 .- 610

Đánh giá thay đổi nồng độ các chỉ số lipid máu của phối hợp Ezetimibe và Simvastatin so với Simvastatin đơn trị trên 136 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Kết quả cho thấy Ezetimibe 10mg sử dụng phối hợp với Simvastatin 10mg cải thiện các thông số lipid máu đặc biệt giảm LDL-c và tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu điều trị cao hơn so với nhóm sử dụng Ezetimibe và Simvastatin 20mg đơn độc. Bên cạnh đó, việc sử dụng Ezetimibe đơn độc hoặc phối hợp đều giúp cải thiện chỉ số FMD sau điều trị.

29 Nghiên cứu chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường thể 2 bằng Cystatin C huyết thanh / Đặng Anh Đào, Trần Hữu Dũng // .- 2017 .- Số 6 .- Tr. 44-51 .- 610

Nghiên cứu chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường thể 2 bằng Cystatin C huyết thanh. Nghiên cứu cho thấy nồng độ Cystatin C huyêt thanh ở bệnh nhân đái tháo đường thể 2 cao hơn nhóm chứng. Nồng độ Cystatin C huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường thể 2 tăng dần theo mức độ Albumin niệu. Có mối tương quan giữa mức lọc cầu thận ước đoán dựa vào Cystatin C và mức lọc cầu thận xạ hình thận. Có mối tương quan nghịch giữa Nồng độ Cystatin C huyết thanh với mức lọc cầu thận ước đoán.

30 Khảo sát tình trạng acid uric máu ở bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường / Vương Tuyết Mai, Võ Đức Linh, Nguyễn Thúy Hằng // .- 2017 .- Số 3 .- Tr. 67-72 .- 610

Khảo sát tình trạng Acid uric máu trên 111 bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn từ 01/2014 đến 7/2015. Kết quả cho thấy nồng độ acid uric trung bình ở các đối tương nghiên cứu là 409,2 cộng trừ 135,6 micromol/L. Nồng độ acid uric cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê các nhóm tuổi, giới, mức lọc cầu thận, HbA1C của bệnh nhân.