CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Điều trị

  • Duyệt theo:
1 Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh nhân nhồi máu não diện rộng được phẫu thuật mở sọ giảm áp y / Nguyễn Trọng Hiệp, Trần Trung Kiên, Nguyễn Vũ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 80 - 85 .- 610

Nghiên cứu 30 bệnh nhân nhồi máu não diện rộng được phẫu thuật mở sọ giảm áp từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 1 năm 2025 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tuổi trung bình là 59,1 ± 11,2; tỉ lệ nam/nữ là 2,75/1; điểm NIHSS trung bình trước phẫu thuật là 18,4 ± 3,0; toàn bộ bệnh nhân có điểm ASPECTS ≤ 5. Cắt lớp vi tính: 76,7% bệnh nhân có di lệch đường giữa < 10 mm, 23,3% vượt quá 10 mm. Ra viện: 90% bệnh nhân sống, tử vong 10%. 27 bệnh nhân sau 6 tháng: 55,6% đạt kết quả chức năng tốt (mRS 0–3) và 44,4% có kết quả xấu (mRS 4–6). Phẫu thuật mở sọ giảm áp ở bệnh nhân nhồi máu não diện rộng là một phương pháp khả thi, an toàn với tỷ lệ tử vong thấp sau phẫu thuật.

2 Đặc điểm lâm sàng của người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo tại Bệnh viện Da Liễu Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan / Lê Thị Chi Phương, Vũ Xuân Hương, Phạm Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Liên Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 74 - 78 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng của người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên 125 người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo hoặc âm đạo được làm xét nghiệm tìm 12 tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội từ tháng 5/2025 – 10/2025. Kết quả: Nghiên cứu tiến hành trên 125 người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo, trong đó 54 trường hợp (43,2%) dương tính với ít nhất một tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nhóm tuổi 20–29 chiếm tỷ lệ cao nhất (46,4%), nam giới nhiều hơn nữ giới (47,3% so với 44,1%). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy dịch tiết nhiều (OR = 3,14; KTC 95%: 1,06–6,54), dịch đục (OR = 5,56; KTC 95%: 1,73–17,90), có triệu chứng cơ năng (OR = 2,27; KTC 95%: 1,58–8,25) và có dấu hiệu viêm trên lâm sàng (OR = 3,41; KTC 95%: 1,27– 7,35) đều liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả dương tính. Ngược lại, tiền sử sử dụng kháng sinh làm giảm tỷ lệ phát hiện tác nhân (OR = 0,30; KTC 95%: 0,06–0,87). Kết luận: Các đặc điểm lâm sàng, đặc biệt tính chất dịch tiết và dấu hiệu viêm, có giá trị trong dự báo khả năng dương tính với BLTQĐTD ở người bệnh có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo. Việc sử dụng kháng sinh trước đó làm giảm khả năng phát hiện các tác nhân.

3 Kết quả điều trị tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương bằng kỹ thuật vi phẫu / Nguyễn Hồng Hà, Bùi Đức Tín, Trần Xuân Thạch, Trần Thị Thanh Huyền, Tô Tuấn Linh, Nguyễn Đức Tiến // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 175 - 180 .- 610

Tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay là một dạng tổn thương thần kinh ngoại biên thường gặp, đặc biệt do chấn thương. Nếu không được điều trị đúng cách nó có thể gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và lao động của người bệnh. Bài báo này nhằm mục đích đánh giá kết quả điều trị tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương bằng kỹ thuật vi phẫu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên các bệnh nhân có tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương, được điều trị từ 01/2020 đến 07/2025. Theo dõi các biến số tuổi, giới, nguyên nhân, phương pháp phẫu thuật, kết quả sau mổ. Sử dụng thang điểm BMRC để đánh giá hồi phục chức năng. Kết quả: Trong 60 bệnh nhân được nghiên cứu thời gian theo dõi tối thiểu là 6 tháng sau phẫu thuật và bệnh nhân theo dõi lâu nhất là 65 tháng. Tổn thương chủ yếu gặp ở nam giới (80%) trong độ tuổi lao động (18–60 tuổi: 80%), nguyên nhân phổ biến nhất là tai nạn giao thông (40%). Thời gian can thiệp trước 3 tháng mang lại kết quả tốt hơn. Tỷ lệ phục hồi vận động M3–M5 đạt 83,3%, cảm giác mức S3–S4 đạt 85%. Kết luận: Điều trị sớm và đúng kỹ thuật, đặc biệt là áp dụng kỹ thuật vi phẫu trong điều trị cho thấy sự hồi phục đáng kể cả về chức năng vận động và cảm giác ở những bệnh nhân tổn thương thần kinh quay.

4 Vai trò của gen trong yếu tố nguy cơ và trong tiến triển bệnh thoái hóa khớp / Huỳnh Thị Thùy Trang, Trần Thị Kim Phi, Vũ Hoàng Phương Thư // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 363 - 368 .- 610

Thoái hóa khớp là bệnh lý khớp phổ biến nhất trên toàn cầu, đặc trưng bởi quá trình thoái hóa sụn khớp, thay đổi xương dưới sụn và tổn thương các cấu trúc quanh khớp. Bệnh thường tiến triển mạn tính, gây đau, hạn chế vận động và giảm chất lượng cuộc sống, đồng thời ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội đáng kể. Hiện nay, các biện pháp điều trị thoái hóa khớp chủ yếu tập trung vào giảm triệu chứng và cải thiện chức năng, trong khi tiến triển bệnh vẫn không thể đảo ngược. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu, cơ chế bệnh sinh của thoái hóa khớp vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn, do sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố cơ học, chuyển hóa, viêm và di truyền. Hiện nay, các nghiên cứu sinh học phân tử ngày càng được quan tâm nhằm giải thích sâu hơn bản chất bệnh. Đặc biệt, nghiên cứu về gen được xem là một bước tiến mới, góp phần làm sáng tỏ vai trò của di truyền trong nguy cơ mắc bệnh, sự khác biệt về mức độ nhạy cảm giữa các cá thể cũng như triển vọng ứng dụng chẩn đoán sớm và phát triển các phương pháp điều trị trong tương lai.

5 Cải thiện tỷ lệ sử dụng thuốc chẹn Beta giao cảm ở bệnh nhân suy tim sau khi xuất viện do đợt cấp mất bù tại Viện Tim mạch Việt Nam thực hành điều trị suy tim theo AHA – GWTG / Phạm Minh Tuấn, Nguyễn Thị Thu Hoài // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 250 - 253 .- 610

Chẹn Beta giao cảm là một trong các thuốc nền tảng quan trọng trong điều trị bệnh nhân (BN) suy tim có phân suất tống máu giảm (HFrEF). Tuy nhiên, việc e ngại trước các tác dụng phụ hoặc tình trạng sung huyết của bệnh nhân suy tim khi xuất viện khiến cho việc sử dụng thuốc chẹn Beta giao cảm chưa thực sự mạnh mẽ. Điều này khiến cho việc tối ưu hoá trong điều trị suy tim bị cản trở, làm giảm đi tác dụng cải thiện chức năng tim ở những bệnh nhân này. Trong nghiên cứu này, chúng tôi hồi cứu đánh giá sự tiến bộ chỉ định dùng thuốc chẹn beta giao cảm trên nhóm BN HFrEF xuất viện sau đợt cấp mất bù tại viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai năm 2023 theo hướng dẫn của Hiệp hội tim mạch học Hoa kì – Get with the Guidelines (AHA-GWTG).

6 Đánh giá kết quả điều trị ung thư gan nguyên phát qua giai đoạn phẫu thuật bằng nút mạch hóa dầu tại Hải Phòng / Lê Minh Quang // Y học thực hành .- 2024 .- Số 3 .- Tr. 20-22 .- 610

Purpose: to determine the results of transcatheter oily chemoembolization for non-operable hepatocellular carcinoma treated at Viet Tiep Hospital. Patients and method: A retrospective study of 51 cases of unresectable hepatocellular carcinoma treated by oily chemoembolization at Viet Tiep hospital from 2011 to 2014. Results: 116 transcatheter oily chemoembolizations were performed for 51 liver cancer patients. Common complication is post-embolization syndrome, which raised up to 75 percent. Pain symptom reduced from 66.6 percent pre-emboliztion to 20 percent at 3rd month of post-opration. 12-month; 24- month and 36-month survival rate is 55.4 percent; 29 percent and 12.9 percent respectively. Conclusion: Transcatheter oily chemoembolization is relatively safe and tolerable, which help to relieve clinical symptoms. Survival rate after 1, 2 and 3-year was 55.4 percent; 29 percent and 12.9 percent.

7 Đánh giá kết quả bước đầu vi phẫu phẫu thuật u não tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An / Hoàng Kim Tuấn, Dương Đình Chỉnh // Y học thực hành .- 2024 .- Số 2 .- Tr. 6-8 .- 610

Objective: To evaluate the results of microsurgical treatment of brain tumors at Nghe An general friendship hospital. Material and Methods: The retrospective and descriptive study of 52 brain tumors patients who had microsurgery at Nghe An general friendship hospital from 09/2013 to 09/2105. Results: The lowest age was 17 years, highest age was 65 years, average age was 44.15. Including 52 patients with males and females, females/males was 2.25. The clinical signs: headache was 94.23 percent, vomiting was 28.84 percent, papilloedema 25 percent, hemiplegia was seen 19.23 percent. The most frequent of histopathology types of brain tumors accounted for meningiomas 57.69 percent and glial cell tumors 30.76 percent. Post operative results: good 80.76 percent, medium 15.28 percent and bad 3.86 percent. Check each 3 months after operative, 46 patients had significantly improved results to compare before surgery with majority of I, II degree of Kamofsky scale. Conclusion: The results of microsurgery treatment of brain tumor at Nghe An general friendship hospital is relatively good.

8 Kết quả phẫu thuật nội soi điều trị viêm túi mật cấp do sỏi túi mật tại Bệnh viện Quân Y 110 / Nguyễn Hồng Việt, Bùi Tuấn Anh // Y học thực hành .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 50-53 .- 610

Background: Laparoscopic cholecystectomy for acute cholecystitis used to be a contraindication before. However, this method is becoming to be applied more and more because of experiences of surgeons and technical advance. This study was to evaluate the ability, safety and efficacy of this method. Method: Cross-sectional descriptive, retrospective study. Results: 25 patients with acute cholecystitis was applied laparoscopic cholecystectomy. The average of age was 51.21 +/- 7.6. Male/female: 1.5. More than 60 percent of them are in second day of disease. 100 percent had abdominal pain in right upper quadrant. 68 percent had fever of more than 38oC. Ultrasound with thick gall-bladder wall was in 100 percent. Number of white blood was more than 15GIL in 40 percent of patients. Average operating time: 65.2 +/- 12.9 minutes. The average time of hospital stay after operation was 6.8 +/- 2.5 days. Best and middle result was in 92 percent. One case had biliary leakage. Conclusion: Laparoscopic cholecystectomy was a realiable, safe and effective method for treatment of acute cholecystitis.

9 Đánh giá kết quả điều trị gãy Pouteau-Colles bằng phương pháp Kapandji tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Huế / Đặng Lê Hoàng Nam, Lê Nghi Thành Nhân // Y học thực hành .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 68-72 .- 610

Background: Pouteau-Colles fracture treatment mainly in the country is still in a cast- immobilization forearm. This method easy to implement, low cost but there are complications. From 212012 to 512014 at the Hue University Hospital of Medicine and Pharmacy, Kapandji method has been applied in Pouteau-Colles fracture treatment and have obtained some results. Aims: Evaluation results of Pouteau-Colles fractures treated by Kapandji method. Patients and methods: included 33 patients diagnosed as Pouteau-Colles fractures and were treated according to the Kapandji method. Research methodology: a prospective descriptive. Results: During the period from 2/2012 to 5/2014, the authors have performed 33 cases Pouteau-Colles fractures treated by Kapandji method. Mean age is 54.64 +/- 18.01. Postoperative radiologic images on a scale of Scheck after 3 months is 66,70 percent very good, 33,30 percent good. Functional assessment postoperative on a scale of Gardland and Werley after 3 months: 70,83 very good and 29,17 good, no bad, and very bad case immediately after surgery and at 3 months follow-up. Conclusions Treatment of Colles fracture Pouteau-Kapandji method is a solution to bring good results after treatment and is very much limited complications compared with methods previously cast.

10 Đánh giá kết quả điều tri ung thư gan nguyên phát giai đoạn phẫu thuật bằng nút mạch hóa dầu tại Hải Phòng / Lê Minh Quang // Y học thực hành .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 20-22 .- 610

Purpose: to determine the results of transcatheter oily chemoembolization for non-operable hepatocellular carcinoma treated at Viet Tiep Hospital. Patients and method: A retrospective study of 51 cases of unresectable hepatocellular carcinoma treated by oily chemoembolization at Viet Tiep hospital from 2011 to 2014. Results: 116 transcatheter oily chemoembolizations were performed for 51 liver cancer patients. Common complication is post-embolization syndrome, which raised up to 75 percent. Pain symptom reduced from 66.6 percent pre-emboliztion to 20 percent at 3rd month of post-opration. 12-month; 24- month and 36-month survival rate is 55.4 percent; 29 percent and 12.9 percent respectively. Conclusion: Transcatheter oily chemoembolization is relatively safe and tolerable, which help to relieve clinical symptoms. Survival rate after 1, 2 and 3-year was 55.4 percent; 29 percent and 12.9 percent.