Đặt stent động mạch nội sọ trong can thiệp điều trị đột quỵ nhồi máu não cấp
Tác giả: Phạm Đình Đài, Đặng Minh ĐứcTóm tắt:
Hẹp động mạch nội sọ là thách thức trong điều trị tái thông mạch do tỉ lệ tái tắc mạch cao, tỉ lệ tái thông tốt thấp. Mục tiêu: Đánh giá kết quả, an toàn của đặt stent điều trị hẹp động mạch nội sọ trong can thiệp nhồi máu não do tắc mạch lớn. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu quan sát, hồi cứu, các trường hợp nhồi máu não do tắc mạch lớn được điều trị can thiệp và có đặt stent nội sọ trong thời gian từ tháng 1/2024 tới tháng 4/2025 tại Bệnh viện Quân y 103. Kết quả: Tuổi trung bình 61,4 ± 12,7, nam giới 70,6%. Các yếu tố nguy cơ của ICAD: tăng huyết áp 73,5%, hút thuốc 64,7%, rối loạn lipid máu 47,1%, đái tháo đường 26,5%. Vị trí hẹp: động mạch cảnh trong 10,9%, động mạch não giữa (MCA) đoạn M1 65,9%, MCA đoạn M2 23,1%. Trước đặt stent, tỉ lệ tái thông tốt 8,8% sau đặt stent 68,5% (p<0,05). Tỉ lệ hồi phục lâm sàng tốt (mRS 0 – 2) 58,9%. Lóc tách động mạch 2,9%, nhồi máu não chuyển thể chảy máu 26,5%, chảy máu dưới nhện 8,8%. Kết luận: Đặt stent trong điều trị cấp cứu tái thông mạch đối với các trường hợp nhồi máu não do ICAD là kỹ thuật an toàn, tăng tỉ lệ tái thông tốt và hồi phục lâm sàng cho người bệnh.
- Bước đầu đánh giá tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp tế tế bào đơn nhân tủy xương tự thân ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não
- Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở bệnh nhân nhồi máu não cấp có bệnh lý ung thư kèm theo
- Tác dụng phục hồi vận động của cấy chỉ kết hợp Bổ dương hoàn ngũ thang, điện châm, xoa bóp bấm huyệt trên bệnh nhân sau nhồi máu não thể khí suy huyết ứ
- Tác dụng của oxy cao áp kết hợp điện châm và xoa bóp bấm huyệt trong phục hồi chức năng vận động trên người bệnh liệt nửa người do nhồi máu não sau giai đoạn cấp
- Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ của nhồi máu não cấp hệ động mạch sống nền





