CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Trở về

Đánh giá hiệu quả và độc tính của xạ trị ngắn ngày tiền phẫu ung thư trực tràng giai đoạn II – III đối với bệnh nhân ≥ 70 tuổi hoặc chống chỉ định hóa trị

Tác giả: Nguyễn Đình Thanh Thanh, Trần Thị Thu Hà, Hồ Văn Trung, Nguyễn Quốc Bảo, Quan Anh Tiến, Châu Đức Toàn
Số trang: Tr. 279 - 286
Tên tạp chí: Y học Việt Nam (Điện tử)
Số phát hành: Số CD1
Kiểu tài liệu: Tạp chí điện tử
Nơi lưu trữ: CSDL điện tử
Mã phân loại: 610
Ngôn ngữ: Tiếng Việt
Từ khóa: Ung thư trực tràng, Xạ trị ngắn ngày, Độc tính, Tiền phẫu thuật
Tóm tắt:

Khảo sát độc tính cấp của điều trị, tỷ lệ đáp ứng sau xạ, sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ của bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn II – III ≥ 70 tuổi hoặc chống chỉ định hóa trị, được xạ trị tiền phẫu bằng phác đồ ngắn ngày và phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca hồi cứu 11 bệnh nhân được xạ trị vùng chậu tiền phẫu phác đồ 5Gy x 5 tại Khoa Xạ trị tổng quát, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 6/2021 đến tháng 5/2024. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 78,8 tuổi (68 - 89). Cả 100% đều bị tăng huyết áp, kèm theo các suy tim (2 bệnh nhân), đái tháo đường (3 bệnh nhân), suy thận mạn độ 2 (4 bệnh nhân). Có 5 bệnh nhân (45,4%) bướu ở trực tràng thấp. Về xếp giai đoạn, chiếm ưu thế với 10 bệnh nhân bướu cT3 (90,9%) và hạch cN1 (54,5%). Trung vị thời gian từ lúc xạ trị xong đến phẫu thuật là 5,0 tuần. Có 3 bệnh nhân (27,3%) phẫu thuật Miles và 1 bệnh nhân (9,1%) phẫu thuật Hartmann, số còn lại được cắt trước thấp. Chỉ có 2 bệnh nhân (18,2%) hóa trị sau mổ. Tỷ lệ đạt đáp ứng hoàn toàn sau mổ (pCR) là 9,1% (1 trường hợp). Có 2 bệnh nhân (18,2%) bị độc tính tiêu hóa grad 1 do xạ. Với trung vị thời gian theo dõi 6,0 tháng, có 3 bệnh nhân tái phát tiến triển (27,3%) và 1 bệnh nhân (9,1%) tử vong do tai biến mạch máu não. Xác suất sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ 2 năm lần lượt là 72,7% và 90,9%. Kết luận: Xạ trị ngắn ngày tiền phẫu trong ung thư trực tràng ít tác dụng phụ, giảm kích thước bướu tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật, thích hợp cho những bệnh nhân không thể thực hiện được hóa xạ trị đồng thời.