Đánh giá hiệu quả của phác đồ hóa trị kết hợp Epirubicin và nhóm Taxanes trong điều trị hóa trị tân bổ trợ ung thư vú giai đoạn III có thụ thể HER2 dương tính
Tác giả: Nguyễn Đức Toàn, Võ Ngọc Huân, Hứa Hoàng Tiến LộcTóm tắt:
Tiến hành hồi cứu 47 trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú giai đoạn III có biểu hiện HER2 dương tính và được điều trị tân bổ trợ với phác đồ ET, với mục tiêu ghi nhận tỷ lệ đáp ứng chung trên lâm sàng (ORR), tỷ lệ đạt được pCR sau hóa trị và những độc tính ghi nhận được trong quá trình điều trị với phác đồ này. Kết quả: Chúng tôi ghi nhận được tỷ lệ ORR đạt 87.23% và tỷ lệ bệnh nhân đạt được pCR là 10.63%. Theo ghi nhận, phần lớn bệnh nhân (63.83%) được điều trị với Paclitaxel là thuốc được lựa chọn đối với nhóm Taxane. Đối với nhóm bệnh nhân sử dụng Docetaxel thì việc phối hợp thêm với G-CSF cao hơn đáng kể khi so với nhóm sử dụng Paclitaxel (p = 0.004), tuy nhiên độc tính độ 3 - 4 liên quan đến giảm bạch cầu thì không có sự khác biệt giữa 2 nhóm trong nghiên cứu của chúng tôi. Đối với độc tính hệ huyết học, các độc tính thương gặp nhất là giảm bạch cầu, giảm bạch cầu hạt và sốt giảm bạch cầu, độc tính huyết học độ 3 - 4 chiếm 28.20% các độc tính ghi nhận được và không có ghi nhận tử vong trong quá trình điều trị. Đối với độc tính ngoài hệ huyết học, đại đa số các độc tính ghi nhận ở mức độ nhẹ (độ 1 - 2) với tăng men gan, nôn ói và rối loạn thần kinh ngoại vi là những tác dụng phụ thường gặp nhất. Kết luận: Hóa trị tân bổ trợ với phác đồ ET đối với bệnh nhân ung thư vú giai đoạn III có HER2 dương tính là một phương pháp thay thế có thể cân nhắc sử dụng bởi tỷ lệ đáp ứng lâm sàng cao. Tuy nhiên khi so sánh với những thuốc thuộc nhóm kháng HER2 thì tỷ lệ đạt được pCR còn rất khiêm tốn. Việc lựa chọn điều trị bằng phác đồ ET trong trường hợp này cần được cân nhắc và bàn bạc kỹ lượng với bệnh nhân. Độc tính nặng ghi nhận trong quá trình điều trị chủ yếu liên quan đến giảm bạch cầu, các biến chứng này có thể được dự phòng bằng G-CSF và cũng cần theo dõi sát trong quá trình điều trị.
- Đáp ứng di truyền học phân tử sâu trên người bệnh bạch cầu mạn dòng tủy kháng hoặc không dung nạp imatinib được điều trị
- Ảnh hưởng của các chỉ số huyết học trước gạn tách đến quá trình gạn tách và chất lượng khối tiểu cầu trên hệ thống có lọc bạch cầu và bù dịch tại trung tâm Truyền máu Chợ Rẫy
- Chất lượng khối tế bào gốc máu ngoại vi sau bảo quản đông lạnh tại Ngân hàng tế bào gốc - Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương giai đoạn 2014 – 2023
- Bước đầu đánh giá tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp tế tế bào đơn nhân tủy xương tự thân ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não
- Đánh giá hiệu quả điều trị ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài trên trẻ em mắc bệnh bạch cầu cấp dòng





