Dấu hiệu 'spot' và 'vệ tinh' ở bệnh nhân chảy máu não nguyên phát: Đặc điểm hình ảnh và liên quan đến gia tăng khối máu tụ
Tác giả: Trần Thị Ngọc Trường, Nguyễn Thị Thanh Bé, Luyện Trung Kiên, Đồng Thị Thu Trang, Phạm Đình ĐàiTóm tắt:
Mô tả đặc điểm hình ảnh của dấu hiệu (DH) “spot” trên chụp cắt lớp vi tính mạch não (CTA), DH “vệ tinh” trên chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não và đánh giá mối liên quan giữa hai DH này với nguy cơ gia tăng khối máu tụ (KMT) ở bệnh nhân (BN) đột quỵ chảy máu não (CMN) nguyên phát. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 116 BN CMN nguyên phát được chụp CTA trong vòng 6 giờ kể từ khi khởi phát. Đánh giá sự hiện diện của DH “spot”, “vệ tinh”, và các đặc điểm thuộc thang điểm Spot Sign Score (SSS), sau đó so sánh giữa hai nhóm có và không tăng KMT (HE và Non-HE). Kết quả: Tỷ lệ DH “spot” là 39,66%, trong đó nhóm HE chiếm 68,75%, cao gấp 2,4 lần so với nhóm Non- HE (28,57%), p<0,001. DH “vệ tinh” xuất hiện ở 18,10% BN, cao hơn đáng kể ở nhóm HE (34,38% so với 11,90%; p = 0,005). Đồng thời xuất hiện cả hai DH ở nhóm HE cao gấp 3 lần nhóm Non-HE (25,00% so với 8,33%; p = 0,017). Về thang điểm “spot”, các đặc điểm có ý nghĩa gồm: đường kính ngang lớn nhất của “spot” ≥ 5 mm (86,36% ở nhóm HE so với 33,33%; p<0,001) và SSS ≥ 2 (86,36% so với 45,83%; p=0,015). Kết luận: DH “spot”, “vệ tinh”, và thang điểm “spot” có giá trị tiên lượng cao trong dự đoán nguy cơ gia tăng KMT ở BN CMN nguyên phát. Việc kết hợp các DH này giúp tăng độ chính xác trong phân tầng nguy cơ, hỗ trợ ra quyết định điều trị phù hợp.
- Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của u buồng trứng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
- Kết quả phẫu thuật nội soi cắt dạ dày bán phần cực dưới, nạo vét hạch D2 với miệng nối trong ổ bụng điều trị ung thư biểu mô dạ dày tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
- Kết quả phẫu thuật lối sau điều trị gãy trật cột sống đoạn ngực - thắt lưng tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
- Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị hội chứng Duan
- Kết quả điều trị viêm não do virus Herpes simplex ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2019-2025