Kết quả tìm kiếm
Có 79538 kết quả được tìm thấy
61311Tác động của đầu tư công đến thu hút đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Nghiên cứu trình bày: 1. Giới thiệu; 2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước; 3. Mô tả quan hệ giữa đầu tư công với đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam; 4. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu và 5. Kết quả nghiên cứu.

61312Tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, nghiên cứu sử dụng tập dữ liệu của 63 tỉnh thành phố tại Việt Nam trong giai đoạn 2000-2017 với 1034 quan sát áp dụng mô hình hồi quy bằng phương pháp ước lượng FEM và phương pháp GLS đối với biến phụ thuộc tăng trưởng kinh tế. Các biến độc lập lần lượt là vốn đầu tư và lực lượng lao động. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đầu tư khu vực công bằng ngân sách nhà nước (GISB), đầu tư từ khu vực trong nước (PI), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), lực lượng lao động (L) có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, giai đoạn 2000-2017. Bên cạnh đó, vốn đầu tư khu vực công bằng vốn vay (GIL) chưa xác định được mối quan hệ đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.

61313Tác động của đầu tư công nghệ đến hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung vào tác động của đầu tư công nghệ (ĐTCN) đến hiệu quả tài chính (HQTC) của ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam giai đoạn 2012–2022 dựa vào phương pháp hồi quy đa biến. Kết quả dựa trên mô hình phù hợp nhất (GMM) chỉ ra rằng, ĐTCN ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) bằng cách tối ưu hóa quy trình nội bộ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Bên cạnh đó, tỷ lệ tiền gửi ảnh hưởng ngược chiều đến HQTC do tăng chi phí vốn. Tỷ lệ cho vay trên tài sản và tỷ lệ nợ xấu cũng ảnh hưởng đáng kể đến HQTC, trong khi tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tác động cùng chiều thì tỷ lệ nợ xấu có tác động ngược chiều. Kết quả cũng xác định tăng trưởng kinh tế thường đi đôi với sự tăng cường hoạt động kinh doanh và HQTC. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, cần tăng cường đầu tư vào công nghệ để tối ưu hóa quy trình và trải nghiệm khách hàng, cũng như quản lý tỷ lệ tiền gửi và nợ xấu một cách cẩn trọng để giảm chi phí vốn và cải thiện HQTC.

61314Tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đầu tư công và đầu tư tư nhân có tác động tích cực trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, nhưng đầu tư công không thúc đẩy đầu tư tư nhân tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để đầu tư công thúc đẩy đầu tư tư nhân, các cơ quan quản lý tại các tỉnh, thành phố cần nâng cao hiệu quả quản lý thông qua việc phân cấp điều hành các dự án công.

61315Tác động của đầu tư đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Đầu tư là là hoạt động tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân; là cốt lõi, động lực cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế - xã hội; góp phần nâng cao trình độ khoa học - công nghệ cho đất nước. Bài viết này, khái quát ý nghĩa và tác động của đầu tư đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam; đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của đầu tư trong và ngoài nước đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.

61316Tác động của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp đến thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định

Tập trung phân tích tác động của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, từ đó đưa ra các khuyến nghị, đề xuất cho chính quyền địa phương nhằm tăng cường thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn.

61317Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu được thực hiện với mong muốn góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách đánh giá thực tiễn hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được trong thu hút FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành, lĩnh vực: dịch vụ, công nghiệp, xây dựng; nông nghiệp và đưa ra những nguyên nhân của hạn chế, nhóm nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị nhằm thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hồ Chí Minh theo hướng nhanh và bền vững.

61318Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến một số chỉ tiêu phát triển kinh tế tỉnh Thái Nguyên

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nguồn vốn quan trọng, tác động vào các chỉ số kinh tế, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Nghiên cứu này cung cấp các kết quả định lượng cho hai mục tiêu nghiên cứu sau đây. Thứ nhất, nghiên cứu đánh giá và phân tích kết quả phát triển kinh tế nhờ hoạt động thu hút FDI trên cơ sở các chỉ số kinh tế như tổng sản phẩm, giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị xuất khẩu. Thứ hai, nghiên cứu phân tích và xác định mối tương quan giữa FDI và các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu. Kết quả nghiên cứu sẽ khẳng định rằng vốn FDI có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là tác động lớn tới giá trị của các chỉ tiêu phát triển kinh tế. Nghiên cứu này còn kiến nghị một số giải pháp thu hút FDI cho địa phương khác dựa trên nghiên cứu trường hợp điển hình thu hút FDI Thái Nguyên giai đoạn 2010-2019.

61319Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến mức độ đa dạng hóa xuất khẩu : bằng chứng thực nghiệm từ các nước đang phát triển

Bài nghiên cứu đóng góp một phân tích thực nghiệm cho chủ đề khi phân tích ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư nước ngoài đến đa dạng hóa xuất khẩu. Kết quả phân tích định lượng trên mẫu 59 quốc gia đang phát triển giai đoạn 2000-2017 xác nhận vai trò mờ nhạt của kênh tác động, trái ngược với quan niệm và kỳ vọng chính thống

61320Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng suất lao động của ngành chế biến chế tạo công nghệ cao của Việt Nam

Bài viết này nhằm phân tích tác động của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến năng suất lao động (NSLĐ) ở cấp độ doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trong ngành chế biến chế tạo công nghệ cao của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018 với 15402 doanh nghiệp mỗi năm. Kết quả hồi quy từ dữ liệu bảng và mô hình tác động cố định (Fixed Effect) chỉ ra rằng các kênh lan tỏa ngang, lan toả xuôi, lan toả ngược và lan toả ngược cung của FDI có tác động thực sự đến NSLĐ. Cụ thể, hầu hết các kênh lan toả ngang và lan toả xuôi, lan toả ngược có tác động tích cực, trong khi lan toả ngược cung có ảnh hưởng tích cực đến NSLĐ. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy ảnh hưởng ngược chiều của môi trường thể chế kinh doanh lên NSLĐ của doanh nghiệp.