48171Nghiên cứu tính toán thiết kế tăng cường lớp bê tông nhựa trên mặt đường bê tông xi măng hiện hữu theo phương pháp AASHTO và ứng dụng ở Việt Nam
Trình bày phương pháp tính toán thiết kế tăng cường lớp bê tông nhựa trên mặt đường bê tông xi măng hiện hữu theo phương pháp AASHTO. Từ kết quả đo đạc khảo sát trên đoạn tuyến Km137+800-:- Km143+700 thuộc QL18, ứng dụng phương pháp trên để tính toán thiết kế và đề xuất một số dạng kết cấu phù hợp.
48172Nghiên cứu tính toán trường nhiệt độ trong lớp bê tông nhựa mặt đường ô tô ở khu vực đồng bằng Bắc bộ nước ta
Sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn, xây dựng bài toán truyền nhiệt trong kết cấu mặt đường bê tông nhựa trên phần mềm Abaqus ở điều kiện nền nhiệt độ khu vực đồng bằng Bắc bộ nước ta, có xét đến sự thay đổi các đặc trưng truyền nhiệt của vật liệu theo nhiệt độ.
48173Nghiên cứu tính toán xác định chiều sâu vùng biến dạng dẻo lớp bê tông nhựa trong kết cấu mặt đường ô tô
Giới thiệu phương pháp lý thuyêt tính toán chiều sâu vùng biến dạng dẻo lớp bê tông nhựa phục vụ tính toán xác định chiều dày các lớp vật liệu trong kết cấu áo đường mềm đường ô tô, nhằm hạn chế biến dạng hằn lún lớp bê
48174Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân xạ trị vùng đầu cổ tại Bệnh Viện Ung Bướu
Nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhân xạ trị vùng đầu cổ. Khảo sát các yếu tố liên quan đến dinh dưỡng ở bệnh nhân xạ trị.
48175Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và mối liên quan với các yếu tố nguy cơ tim mạch ở Bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ. Khảo sát mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố nguy cơ tim mạch ở đối tượng nghiên cứu.
48176Nghiên cứu tình trạng đột biến gen IDH1 trên bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm
Đột biến gen IDH1 được coi như một dấu ấn sinh học phân tử, đóng một vai trò quan trọng trong tiên lượng đối với bệnh nhân mắc u nguyên bào thần kinh đệm hiện nay. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu được thực hiện trên 129 bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm được phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ năm 2017 đến năm 2021.
48177Nghiên cứu tình trạng nảy chồi u trong ung thư biểu mô đại trực tràng
Ung thư đại trực tràng là bệnh lý ác tính thường gặp nhất của đường tiêu hóa với tỷ lệ tử vong cao. Típ thường gặp nhất trong ung thư biểu mô đại trực tràng là típ tuyến thông thường. Nảy chồi u là một yếu tố tiên lượng quan trọng liên quan đến di căn hạch, di căn xa, tái phát tại chỗ, thời gian sống thêm toàn bộ và không bệnh xấu hơn. Mục tiêu nghiên cứu: xác định tình trạng nảy chồi u và mối liên quan giữa nảy chồi u với một số đặc điểm mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả trên 107 người bệnh chẩn đoán ung thư biểu mô đại trực tràng nguyên phát tại Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2017 và 2018. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân tại thời điểm phát hiện bệnh là 63,33±12,68 tuổi, trong đó nhóm tuổi 60-69 chiếm tỷ lệ nhiều nhất (36,4%). Tỷ lệ nam/nữ là 1,23/1. Vị trí u găp nhiều nhất là trực tràng (30,8%), thứ 2 là đại tràng sigma (24,3%). Kích thước u từ 4,5cm chiếm tỷ lệ 51,4%. Phần lớn các trường hợp là ung thư biểu mô tuyến thông thường (83,2%) và biệt hóa vừa (80,4%). Mức độ xâm lấn trên vi thể cho thấy xâm lấn đến dưới thanh mạc hoặc mô xung quanh đại trực tràng (pT3) chiếm tỷ lệ nhiều nhất (57,0%). Tỷ lệ di căn hạch là 42,1%, tỷ lệ xâm nhập mạch và thần kinh lần lượt là 39,3% và 36,4%. Tỷ lệ nảy chồi u độ thấp chiếm 61,7%, độ cao chiếm 17,8%. Tỷ lệ nảy chồi u độ cao ở nhóm có độ xâm lấn sâu, kém biệt hóa, xâm nhập mạch, thần kinh và di căn hạch là cao hơn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05). Kết luận: Nảy chồi u độ cao là yếu tố tiên lượng xấu trong ung thư biểu mô đại trực tràng
48178Nghiên cứu tình trạng nảy chồi u trong ung thư biểu mô đại trực tràng
Tổn thương tân sinh ống nhú trong túi mật chiếm 0,4% đến 1,5% các trường hợp cắt túi mật. Phân loại u hệ tiêu hóa của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2019 đã có thay đổi trong nhóm u biểu mô lành và tổn thương tiền ung thư của túi mật, bao gồm: u tuyến môn vị, tân sinh trong biểu mô đường mật (BilIN) và tân sinh nhú trong túi mật (ICPN) do khả năng tiến triển thành ung thư khác nhau. Tổn thương loạn sản ở túi mật có thể tiến triển thành UTTM và tăng nguy cơ phát triển ung thư tại các phần khác của đường mật. Hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu áp dụng bảng phân loại Tổ chức Y tế Thế giới 2019 cho các tổn thương trong nhóm này của túi mật ở Việt Nam. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm mô bệnh học u biểu mô lành và tổn thương tiền ung túi mật theo Tổ chức Y tế Thế giới 2019. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu báo cáo loạt ca bệnh trên 56 trường hợp u biểu mô lành và tổn thương tiền ung của túi mật được chẩn đoán tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2022. Kết quả: Trong 95 trường hợp trường hợp u biểu mô được chẩn đoán trên giải phẫu bệnh, chúng tôi ghi nhận có 56 trường hợp (58,95%) được xếp vào nhóm u biểu mô lành và tổn thương tiển ung. Tuổi trung bình: 49,63 ± 15,31 tuổi, lớn nhất là 87 tuổi, nhỏ nhất là 20 tuổi. Tỷ lệ nữ/nam = 1,4/1. Trong 56 ca bệnh có 4 ca u tuyến môn vị (7,14%), 11 ca BilIN (19,64%) (với 6 ca (54,55%) độ thấp, 5 ca (45,45%) độ cao), và 41 ca ICPN (73,21%) (với 32 ca (78,05%) độ thấp, 9 ca (21,95%) độ cao), cầu dạng gai hiện diện ở 11/56 trường hợp, 37,5% trường hợp có kèm viêm túi mật mạn. Trên đại thể, tổn thương dạng polyp chiếm 60,71%, thường gặp ở đáy túi mật. Kết luận: Nhóm u biểu mô lành và tổn thương tiền ung thư của túi mật là tổn thương ít gặp với đặc điểm mô bệnh học đa dạng, dễ chồng lấp, cần sự kết hợp chặt chẽ của lâm sàng, hình ảnh học trong xác định đặc tính của tổn thương.
48179Nghiên cứu tình trạng nhiễm trùng sau ghép gan
Ghép gan là biện pháp điều trị triệt căn với các bệnh nhân có bệnh gan mạn tính ở các nước phát triển và ngày càng phát triển mạnh mẽ tại Việt nam. Ức chế miễn dịch toàn thân khiến người nhận gan dễ bị nhiễm trùng mới cũng như tái hoạt các nhiễm trùng tiềm ẩn đã có từ trước. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến tính trạng nhiễm trùng sau ghép gan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu và tiến cứu được thực hiện trên 205 bệnh nhân được ghép gan tại Bệnh viện TWQĐ 108 từ năm 2024 đến tháng 6 năm 2025. Tiêu chí xác định nhiễm trùng dựa theo khuyến cáo EASL 2013. Chẩn đoán cụ thể các loại nhiễm trùng thường gặp (viêm phổi, nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng ổ bụng, nhiễm trùng huyết, v.v.) được xác định theo tiêu chuẩn Bộ Y tế và hướng dẫn quốc tế. Kết quả: Tuổi trung bình: ≈57,6 ± 11,4, Tỷ lệ nam giới: ≈85,4%. Các chỉ định ghép gan phổ biến: Suy gan cấp trên nền bệnh gan mạn tính. ACLF (35%), Ung thư biểu mô tế bào gan (30%), Xơ gan (25%). Tỷ lệ nhiễm trùng sau ghép gan là 94.6%. Trong đó: Viêm phổi (38%) và nhiễm trùng khác (54%) là các dạng nhiễm trùng phổ biến nhất. Tử vong do nhiễm trùng chiếm 7.7%. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhiễm trùng và các yếu tố: giới, tuổi, điểm MELD và Child-Pugh (p > 0.05). Kết luận: Nhiễm trùng là biến chứng phổ biến và đáng lưu ý sau ghép gan, trong đó viêm phổi và nhiễm trùng huyết chiếm tỷ lệ cao. Cho thấy cần theo dõi sát và kiểm soát nhiễm trùng bằng các biện pháp chăm sóc tích cực ngay sau phẫu thuật.
48180Nghiên cứu tình trạng phơi nhiễm với máu và dịch tể trong thực hành lâm sàng của sinh viên y khoa năm học 2014-2015
Xác định tỷ lệ phơi nhiễm với máu và dịch tể trong thực hành lâm sàng của sinh viên y khoa năm học 2014-2015. Kết quả cho thấy sự phơi nhiễm trong quá trình thực hành lâm sàng của sinh viên y khoa là khá cao, chiếm 59,2 phần trăm. Nguyên nhân chủ yếu là do sự chủ quan, thiếu ý thức bảo vệ bản thân, không tuân thủ các quy định bảo hộ. Sinh viên ngành điều dưỡng có tỷ lệ phơi nhiễm cao nhất trong số các ngành học, chiếm 96 phần trăm.





