Kết quả tìm kiếm
Có 82651 kết quả được tìm thấy
34981Khấu hao tài sản cố định và tác động với hoạt động của doanh nghiệp khai thác than

Vai trò của khấu hao tài sản, một số vấn đề doanh nghiệp khai thác than cần quan tâm.

34982Khẩu phần 24 giờ và một số yếu tố liên quan của người bệnh ung thư thực quản trước phẫu thuật mở thông dạ dày tại Bệnh viện K năm 2024 – 2025

Mô tả khẩu phần 24 giờ và một số yếu tố liên quan tới khẩu phần ăn 24 giờ của người bệnh ung thư thực quản trước phẫu thuật mở thông dạ dày tại Bệnh viện K năm 2024 - 2025. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 96 người bệnh tại khoa Ngoại bụng 1 và Ngoại bụng 2 - Bệnh viện K Tân Triều. Kết quả: Trung bình năng lượng khẩu phần chỉ đạt 997 ± 210 Kcal/ngày, với 97,9% người bệnh không đạt nhu cầu khuyến nghị. Về protein, có 70,8% người bệnh không đạt mức khuyến nghị. Thiếu vitamin, chất xơ và các khoáng chất cũng rất phổ biến, đặc biệt tỷ lệ thiếu Canxi, Magie, vitamin D và chất xơ lên tới 100%. Tỷ lệ người bệnh không đạt nhu cầu năng lượng khẩu phần 24 giờ ở nhóm giai đoạn III–IV là 98,9%, cao hơn rõ rệt so với nhóm giai đoạn I–II (0%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Tỷ lệ không đạt nhu cầu năng lượng tăng theo mức độ nuốt nghẹn, đạt 100% ở nhóm nghẹn độ 2, 98,8% ở độ 1, và không có người bệnh nào thuộc nhóm không nghẹn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Về protein, tỷ lệ người bệnh không đạt nhu cầu protein ở nam giới là 73,1%, trong khi toàn bộ nữ giới đều không đạt, sự khác biệt giữa hai giới có ý nghĩa thống kê (p = 0,02). Ngoài ra, nữ giới có mức năng lượng và protein trung bình cao hơn nam, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,01 và p = 0,02). Kết luận: Phần lớn người bệnh ung thư thực quản trước phẫu thuật mở thông dạ dày không đáp ứng nhu cầu khuyến nghị về năng lượng, protein, lipid, glucid. Tình trạng thiếu chất xơ, các vitamin và khoáng chất là rất phổ biến.

34983Khẩu phần ăn của bệnh nhân suy thận chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng năm 2021

Nghiên cứu nhằm đánh giá khẩu phần ăn của bệnh nhân suy thận chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng năm 2021. Dinh dưỡng và chế độ ăn đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ điều trị và dự phòng các biến chứng của bệnh. Ăn nhạt và giảm protein trong khẩu phần là những biện pháp bảo vệ tối ưu trong điều trị làm chậm tiến triển của suy thận mạn đến giai đoạn cuối. Chế độ ăn có vai trò rất quan trọng trong phòng và điều trị bệnh suy thận mạn. Một khẩu phần hợp lý cân đối giúp kiểm soát và dự phòng biến chứng, cải thiện được tình trạng dinh dưỡng, nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

34984Khẩu phần ăn trước điều trị I-131 của người bệnh ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2020-2021

Phân tích khẩu phần ăn trước điều trị I-131 của người bệnh ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2020-2021. Khẩu phần ăn cung cấp không đủ nhu cầu khuyến nghị và chế độ ăn kiêng iod nghiêm ngặt gây ảnh hưởng đến dinh dưỡng của người bệnh ung thư tuyến giáp. Người bệnh ung thư tuyến giáp sau khi phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp hoàn toàn một thời gian, sẽ ăn hạn chế iod để tiến hành điều trị I-131 từ 1-2 tuần. Chế độ ăn hạn chế các nhóm thực phẩm/thực phẩm giàu iod: gia vị, rong biển, hải sản, sữa và sản phẩm từ sữa, trứng, thực phẩm chế biến sẵn… Khi không cung cấp chế độ ăn đầy đủ, người bệnh không đủ sức khỏe để tiến hành điều trị I-131 làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

34985Khẩu phần ăn và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng tại Bệnh viện Ung Bướu TP. Cần Thơ

Bệnh nhân ung thư cần cung cấp đủ dinh dưỡng để tham gia quá trình điều trị. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng cũng như khẩu phần ăn của người bệnh ung thư vòm mũi họng đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Cần Thơ năm 2024. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang được tiến hành trên 50 người bệnh ung thư vòm mũi họng. Kết quả có 48% người bệnh ung thư vòm mũi họng có nguy cơ suy dinh dưỡng theo PG-SGA và 22% theo BMI, năng lượng trung bình trong khẩu phần ăn hằng ngày là 1246,3 ± 452,7 kcal/ngày. Nghiên cứu tìm thấy khác biệt trung bình giữa ở những người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng theo PG-SGA với năng lượng và hàm lượng glucid trung bình trong khẩu phần ăn hằng ngày. Kết luận: Bệnh nhân ung thư vòm mũi họng có tỷ lệ suy dinh dưỡng đang ở mức cao, năng lượng khẩu phần ăn hằng ngày còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu, có sự khác biệt về năng lượng là hàm lượng glucid trung bình ở các phân nhóm suy dinh dưỡng theo PG-SGA. Vì vậy, cần phải can thiệp dinh dưỡng sớm để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh có thể hoàn thành liệu trình điều trị không bị trì hoãn kéo dài thời gian nằm viện.

34986Khẩu phần thực tế của người bệnh tăng huyết áp nội trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Tăng huyết áp (THA) là bệnh lý mãn tính không lây phổ biến thế giới với tốc độ gia tăng nhanh. Người bệnh THA có thể kiểm soát tốt huyết áp và phòng ngừa biến chứng bằng một chế độ ăn hợp lý. Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm mục đích đánh giá khẩu phần thực tế trên 90 người bệnh tăng huyết áp điều trị nội trú tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2023 - 2024.

34987Khẩu vị rủi ro của các ngân hàng Thương mại Việt Nam

Bài viết tổng quan các lập luận về khẩu vị rủi ro (KVRR) và nhấn mạnh KVRR của các ngăn hàng thương mại (NHTM) Việt Nam. Dựa trên các lý luận khoa học đó, bài viết tìm hiểu cách lượng hóa KVRR trong nghiên cứu thực nghiệm. Sử dụng dữ liệu 26 NHTM Việt Nam từ năm 2012-2022, kết quả tính toán tỷ lệ KVRR cho thấy KVRR của các NHTM Việt Nam ở mức thấp, nhỏ hơn 1 trong giai đoạn 2012-2017 và đã cải thiện cao hơn 1 ở giai đoạn 2018-2020. Kết quả này hàm ý rằng các ngân hàng Việt Nam ngày càng cẩn trọng hơn trong hoạt động kinh doanh, chú tâm đến công tác quản trị rủi ro, nhằm hưởng đến sự ổn định, sự phát triển bền vững hơn là tập trung cho mục tiêu lợi nhuận.

34988Khe hở giữa hai răng cửa giữa hàm trên ở người Việt trưởng thành

Xác định tỉ lệ hở kẽ răng cửa giữa hàm trên người Việt trưởng thành; (2) Mối liên quan giữa tình trạng hở kẽ răng cửa giữa hàm trên và đặc điểm thắng môi trên. Nghiên cứu cắt ngang mô tả khảo sát sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận khe hở hơn 0,5 mm giữa hai răng cửa giữa trên bằng cách dùng thước giấy. Tất cả sinh viên cũng được khám đánh giá vi trí thắng môi trên theo phân loại Mirko (1974) và hình dạng thắng theo phân loại Sewerin (1971). Sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát cảm nhận thẩm mỹ, chức năng và nhu cầu điều trị đối với sinh viên có hở kẽ. Kết quả: Qua khám đánh giá 1.597 sinh viên gồm 962 nữ (60,2%) và 635 nam (39,8%) ghi nhận có 92 người có tình trạng hở kẽ giữa (5,76%). Trong đó có 29 nam (31,52%) và 63 nữ (68,49%), không có sự khác biệt giới tính về tình trạng hở kẽ giữa. Có khác biệt có ý nghĩa về vị trí thắng môi giữa nhóm có và không có hở kẽ giữa (p <0,01), những người có vị trí thắng môi bám thấp có tỉ lệ hở kẽ giữa cao hơn so với người có vị trí bám bình thường. Khả năng có khe hở giữa hai răng cửa hàm trên cao gấp 9,81 lần ở nhóm thắng môi trên bám bất thường so với nhóm có vị trí bám bình thường (OR=9,81. 95%CI=5,21-18,7). Kết luận: Tỉ lệ khe hở kẽ giữa trong mẫu nghiên cứu là 5,76%. Có mối liên quan giữa khe hở giữa hai răng cửa với vị trí bám của thắng môi trên.

34989Khéo dư nước mắt

Bao gồm những bài viết như: Khéo dư nước mắt, đã về đâu những thi sĩ dân gian?, thơ là gì thơ ơi, Hào phóng tài hoa, một Ngô Kha thi sĩ, một vùng ký ức thấm đẫm vị giác, trái tim hình chiếc lá,...

34990Khi “khoảnh khắc trở thành vĩnh viễn” “đương đại” và “lịch sử” trong văn học đương đại Trung Quốc

Thảo luận khái niệm “văn học đương đại” với tư cách là một giai đoạn trong lịch sử văn học Trung Quốc. “Văn học đương đại”, hiểu theo nghĩa này, có thể được nhìn nhận như là một trong những “đặc sắc Trung Quốc”. Từ đó, bài viết trình bày hai khía cạnh của mối quan hệ giữa “đương đại” và “lịch sử” trong văn đương đại Trung Quốc: “đương đại” trở thành “lịch sử”, và “đương đại” vượt lên trên “lịch sử”. Mối quan hệ này đã góp phần đáng kể vào việc phản tư văn học đương đại Trung Quốc nói riêng và lịch sử văn học Trung Quốc nói chung.