17071Đánh giá tình trạng liền vết thương ở người bệnh sau phẫu thuật cắt bao quy đầu sử dụng kỹ thuật cắt truyền thống tại Khoa Nam học và y học giới tính – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2025
Cắt bao quy đầu là một trong những thủ thuật phẫu thuật phổ biến nhất trên thế giới, nhiều nghiên cứu đưa ra 47 biến chứng phổ biến sau phẫu thuật cắt bao quy đầu trong đó chủ yếu liên quan đến công tác chăm sóc sau phẫu thuật đặc biệt là chăm sóc vết thương (1). Công tác chăm sóc vết thương sau phẫu thuật có vai trò rất quan trọng đến việc hồi phục sau phẫu thuật. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 208 người bệnh sau phẫu thuật cắt bao quy đầu bằng phương pháp truyền thống tại Khoa Nam học và Y học giới tính- Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đồng ý tham gia nghiên cứu để đánh giá tình trạng liền vết thương nhằm đánh giá hiệu quả và nâng cao chất lượng chăm sóc vết thương sau phẫu thuật. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy độ tuổi trung bình của người bệnh có phẫu thuật cắt bao quy đầu là 27, có trình độ học vấn từ đại học trở lên chiếm 73.1%, chủ yếu chưa kết hôn chiếm 74.5%, số ngày cắt chỉ trung bình của người bệnh là 11.6 ngày, tại thời điểm sau 3 ngày phẫu thuật vết thương được đánh giá là liền thương tốt đạt 43.2% còn tại thời điểm cắt chỉ đạt 94.2%, tại thời điểm sau 3 ngày phẫu thuật có 2.4% người bệnh có tình trạng hở hoàn toàn vết mổ và tại thời điểm trước cắt chỉ có 0.5% người bệnh có dấu hiệu nhiễm trùng trung bình cần can thiệp y tế thêm.
17072Đánh giá tình trạng lo sơ theo DAS (Dental Anxiety Scale) trước khi can thiệp phẫu thuật răng khôn hàm dưới
Đánh giá tình trạng lo sơ theo thang điểm DAS trước khi can thiệp phẫu thuật răng khôn hàm dưới trên 162 bệnh nhân tại bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương. 88,72 phần trăm lo sợ trước phẫu thuật răng không hàm dưới với các mức độ nhẹ 41,98 phần trăm; vừa 38,27 phần trăm và nặng 8,02 phần trăm. Mức độ lo sợ trung bình là 9,04 cộng trừ 3,65 điểm.
17073Đánh giá tình trạng loạn năng của hàm dưới sau phẫu thuật cắt đoạn xương hàm dưới đặt nẹp tái tạo
Nẹp tái tạo là phương tiện phổ biến để tái tạo khuyết hổng xương hàm dưới (XHD), tuy nhiên, tình trạng chức năng của hàm dưới trên những bệnh nhân (BN) được đặt nẹp giữ khoảng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: Đánh giá tình trạng chức năng hàm dưới sau phẫu thuật (PT) cắt đoạn XHD đặt nẹp tái tạo. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu báo cáo loạt ca lâm sàng tiến cứu trên 19 bệnh nhân (BN) sau PT cắt đoạn XHD đặt nẹp tái tạo tại khoa Phẫu thuật Hàm Mặt bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 01/10/2022 đến ngày 31/08/2023 Kết quả: Ở thời điểm tái khám, 84,2% BN có dấu hiệu loạn năng ở mức độ nhẹ - trung bình theo chỉ số loạn năng lâm sàng Helkimo. Biểu hiện thường gặp là giảm biên độ vận động hàm kèm đau ở khớp khi vận động. Trên hình ảnh cắt lớp vi tính, lồi cầu (LC) bên PT có xu hướng di chuyển ra trước - xuống dưới. Kết luận: Tái tạo khuyết hổng XHD bằng nẹp có liên quan đến tình trạng loạn năng hàm dưới ở mức độ nhẹ đến trung bình.
17074Đánh giá tình trạng loạn thần sau mổ ở bệnh nhân cao tuổi tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Mô tả đặc điểm lâm sàng của loạn thần sau mổ ở bệnh nhân cao tuổi tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2016. Khảo sát một số yếu tố liên quan đến loạn thần sau mổ ở bệnh nhân cao tuổi.
17075Đánh giá tình trạng mệt mỏi ở bệnh nhân ung thư bằng bộ công cụ FACT-F và một số yếu tố liên quan
Khảo sát tình trạng mệt mỏi ở bệnh nhân ung thư bằng bộ công cụ FACT-F và tìm một số yếu tố liên quan đến tình trạng mệt mỏi ở bệnh nhân ung thư.
17076Đánh giá tình trạng ngã và các biến cố bất lợi sau ngã ở người bệnh cao tuổi
Nghiên cứu đánh giá tỷ lệ ngã, các yếu tố liên quan đến ngã và mô tả hậu quả sau ngã ở bệnh nhân ngoại trú cao tuổi. Nghiên cứu tiến cứu được thực hiện từ 03/2018 - 03/2021 trên 636 bệnh nhân ngoại trú ≥ 60 tuổi tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương.
17077Đánh giá tình trạng nhiễm trùng huyết tại đơn vị Ghép tế bào gốc- khoa Huyết học - bệnh viện Chợ Rẫy từ năm 2017 đến 6 tháng đầu năm 2024
Đánh giá tình trạng nhiễm trùng của bệnh nhân tại đơn vị Ghép tế bào thuộc khoa Huyết học tại bệnh viện Chợ Rẫy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng được thực hiện cấy bệnh phẩm với kết quả dương tính điều trị tại Khoa huyết học, bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1/2018 đến hết tháng 6/2024. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca. Kết quả: Chúng tôi ghi nhận được 33 bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng với 37 kết quả cấy dương tính trong tổng số 314 lượt nhập viện (10,5%). Bệnh nhân nam chiếm 42,4%. Tuổi trung vị là 38 (27-53) tuổi. Đa số tác nhân được phân lập là vi khuẩn gram âm (81,8%), trong đó nhiều nhất là Klebsiella pneumoniae đa kháng, tiếp đến là Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa với tỉ lệ lần lượt là 45,5%, 27,3%, 12,1%. Tỉ lệ Klebsiella pneumoniae và E.coli đề kháng với carbapenem lần lượt là 80,0% và 22,0%. Tác nhân gram dương chiếm 15,2% gồm ba loại chính là Streptococcus spp. (9,1%), Staphylococcus aureus (3,0%) và Staphylococcus epidermidis (3,0%), tất cả còn nhạy với vancomycin. Có 1 trường hợp cấy máu dương tính với vi nấm Candida tropicalis. Phần lớn bệnh nhân có chỉ số CRP tăng với giá trị trung vị là 99,1 (4,2 - 324) (mg/L) và giá trị procalcitonin không tăng với giá trị trung vị là 0,33 (0,07 – 18,3) (ng/ml). Tỉ lệ tử vong liên quan nhiễm trùng là 30,3%. Kết luận: Tỉ lệ nhiễm trùng huyết có phân lập được tác nhân gây bệnh tại đơn vị Ghép tế bào gốc- khoa Huyết học- Bệnh viện Chợ Rẫy là 10,5% lượt nhập viện. Tác nhân vi khuẩn thường gặp nhất là gram âm, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là K. pneumoniae đa kháng. Tỉ lệ tử vong liên quan nhiễm trùng là 30,3%.
17078Đánh giá tình trạng rối loạn nhu động thực quản và thay đổi áp lực cơ thắt thực quản dưới ở bệnh nhân có triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày - thực quản
Đo áp lực và nhu động thực quản độ phân giải cao (HRM) là một thăm dò mới trong bệnh trào ngược dạ dày - thực quản (GERD). Nghiên cứu đánh giá rối loạn nhu động và cơ thắt thực quản dưới (LES) ở bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày - thực quản và khảo sát liên quan với triệu chứng lâm sàng. Kết quả thu tuyển được 217 bệnh nhân, tuổi trung bình 46,9 ± 11,7 và 72,4% nữ giới. 101 bệnh nhân (46,5%) có giảm nhu động và 122 (56,2%) có giảm trương lực cơ thắt thực quản dưới. Áp lực cơ thắt thực quản dưới nền và khi nuốt thấp hơn ở nhóm giảm nhu động so với nhóm nhu động bình thường (15,9 ± 8,0 so với 19,0 ± 8,6 và 15,6 ± 7,9 so với 19,9 ± 8,5; p < 0,05). Tỷ lệ viêm thực quản trào ngược ở nhóm nhu động bình thường cao hơn so với nhóm giảm nhu động (51,9% so với 34,9%, p < 0,05). Áp lực cơ thắt thực quản dưới không có tương quan với điểm bộ câu hỏi bệnh trào ngược dạ dày - thực quản và FSSG. Không có bằng chứng về mối liên quan của rối loạn nhu động và áp lực thực quản với các triệu chứng lâm sàng gợi ý trào ngược dạ dày - thực quản.
17079Đánh giá tình trạng sa sút trí tuệ của người cao tuổi tại khoa Nội lão Bệnh viện C Đà Nẵng
Xác định tình trạng sa sút trí tuệ, mô tả yếu tố nguy cơ gây sa sút trí tuệ của người cao tuổi tại khoa Nội lão Bệnh viện C Đà Nẵng.
17080Đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm ở điều dưỡng
Stress, lo âu, trầm cảm liên quan đến nghề nghiệp là một vấn đề phổ biến ở nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng. Tình trạng stress, lo âu, căng thẳng không những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của điều dưỡng, mà còn có thể ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và an toàn người bệnh. Mục tiêu: mô tả mức độ stress, lo âu, trầm cảm của điều dưỡng và một số yếu tố liên quan đến stress. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 94 điều dưỡng tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.





