17061Đánh giá tình trạng bệnh viêm nha chu mạn tính trong lần khám đầu tiên tại khoa nha chu - Bệnh viện Răng Hàm Mặt TP Hồ Chí Minh năm 2016-2017
Trong tổng số 277 bệnh nhên viêm nha chu đến khám lần đầu tại Bệnh viện (nam giới chiếm 57,8 phần trăm với độ tuổi trung binhd là 44,4+-8,4 tuổi), tỷ lệ bệnh nhân viêm nha chu mức độ nặng là 53 phần trăm, mức độ trung bình là 31,8 phần trăm, và mức độ nhẹ là 15,2 phần trăm. Nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức độ viêm nha chu mạn với giới tính, nhóm tuổi, vùng cư trú và nghề nghiệp bệnh nhân (p0,05). Các chỉ số lâm sàng PI, GI, PPD, CAL giảm có ý nghĩa thống kê giữa lần tài khám 2 so với lần khám đầu và lần tái khám 1 (p0,05). Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị (đi đủ 3 lần) là 46,6 phần trăm. Yến tố vùng miền cư trú (sống ngoài thành phố) và nghề nghiệp (nghề tự do, buôn bán) bệnh nhân có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới sự tuân thủ điều trị kém (p0,05).
17062Đánh giá tình trạng đau sau mổ sỏi mật có đặt dẫn lưu KEHR tại Khoa Gan Mật – Bệnh viện Việt Đức, năm 2016
Mô tả tình trạng đau và xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng đau trên người bệnh sau mổ sỏi mật có đặt dẫn lưu Kehr.
17063Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2018
Thử nghiệm đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư bằng bộ công cụ BBT (Bach Mai - Boston Tool) tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang từ tháng 4/2018 đến tháng 6/2018, trên 170 bệnh nhân ung thư nhập viện lần đầu, được điều trị nội trú tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 . Tỷ lệ nguy cơ suy dinh dưỡng bằng phương pháp BBT: suy dinh dưỡng vừa là 46,5%; suy dinh dưỡng nặng là 9,4%. Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn là 41,8%. Tỷ lệ albumin thấp là 22,4%. Tỷ lệ thiếu máu là 52,9%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là 55,9%. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng BBT cần được áp dụng để đánh giá nhanh nguy cơ suy dinh dưỡng cho bệnh nhân trong bệnh viện, từ đó những người bệnh suy dinh dưỡng sẽ được đánh giá suy mòn và đưa ra phác đồ điều trị dinh dưỡng cụ thể.
17064Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân thở máy xâm nhập
Suy dinh dưỡng là tình trạng phổ biến ở bệnh nhân nặng phải thở máy xâm nhập, ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều trị. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân thở máy tại Hồi sức. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 86 bệnh nhân thở máy tại khoa Hồi sức ngoại khoa và ghép tạng – Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng thang điểm SGA (Subjective Global Assessment), chỉ số khối BMI (Body Mass Index), và một số chỉ số sinh hóa khi nhập viện và ra viện. Các đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị được ghi nhận. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SGA B, C) tăng từ 83,3% khi nhập viện lên 95% khi ra viện (p = 0,003). Cân nặng và BMI giảm rõ rệt (p < 0,001), trong khi các chỉ số sinh hóa không thay đổi có ý nghĩa. SGA khi nhập viện liên quan với tuổi, biến chứng nhiễm khuẩn đa kháng và kết quả điều trị (p < 0,05). Suy dinh dưỡng khi ra viện liên quan có ý nghĩa với tuổi cao (p = 0,001), thời gian trì hoãn nuôi ăn tiêu hóa (p < 0,001), và rối loạn chức năng thận. Kết luận: Suy dinh dưỡng rất phổ biến ở bệnh nhân thở máy và có xu hướng nặng lên trong quá trình nằm viện. Cần đánh giá và can thiệp dinh dưỡng sớm, đặc biệt qua đường tiêu hóa, để cải thiện kết cục điều trị.
17065Đánh giá tình trạng giảm tiểu cầu ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Giảm tiểu cầu (< 150 G/L) là một biểu hiện cận lâm sàng thường gặp trên bệnh nhân cấp cứu nói chung và nhiễm khuẩn huyết nói riêng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tỉ lệ mắc và các yếu tố liên quan đến tình trạng giảm tiểu cầu trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết trong vòng 24 giờ đầu nhập viện tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 01/2021 đến tháng 12/2023.
17066Đánh giá tình trạng giãn thoáng qua của cơ thắt thực quản dưới ở bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu với 2 mục tiêu chính là khảo sát tỷ lệ và đặc điểm giãn thoáng qua của cơ thắt thực quản dưới (TLESR) ở bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản bằng đo áp lực nhu động và thực quản độ phân giải cao (HRM); và đánh giá mối liên quan giữa TLESR với đặc điểm lâm sàng và hình ảnh nội soi. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả trên 100 bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản được đo HRM từ tháng 03/2025 đến tháng 06/2025 tại Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa - Gan mật và phòng khám đa khoa Hoàng Long. Kết quả: Có 44/100 bệnh nhân có TLESR với tổng 74 sự kiện được ghi nhận, thời gian trung bình là 20,1 ± 5,4 giây. Tỷ lệ TLESR kèm trào ngược là 60,8%. Trong khi TLESR gặp nhiều hơn ở nữ, thì viêm thực quản trào ngược trên nội soi lại có nguy cơ cao hơn ở nam (OR=2,81, p<0,05). Nhóm bệnh nhân có TLESR có tỷ lệ ợ hợi, ợ chua cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân không có TLESR. Không có sự khác biệt về đặc điểm hình ảnh nội soi, các chỉ số trên đo HRM (áp lực LES, IRP 4s và rối loạn nhu động thực quản) giữa hai nhóm bệnh nhân trên.
17067Đánh giá tình trạng hư hỏng mặt đường bê tông xi măng bằng phương pháp PCI
Nghiên cứu sử dụng phương pháp PCI (Pavement Condition Index) để đánh giá mức độ hư hỏng của mặt đường bê tông xi măng dưới điều kiện khác nhau của dòng giao thông. Bằng cách thu thập số liệu thực tế và so sánh đánh giá mức độ hư hỏng bằng phương pháp PCI cho hai tuyến đường bê tông xi măng thuộc tỉnh An Giang với tổng chiều dài 12km, nghiên cứu đã đánh giá tình hình hư hỏng của mặt đường BTXM trên địa bàn cũng như dự báo tình trạng hư hỏng mặt đường trong tương lai. Từ đó, nghiên cứu đã đề xuất chu kỳ sữa chữa mặt đường thực tế, trên cơ sở tham chiếu với Thông tư 10/2010/TT-BGTVT quy định về quản lý và bảo trì đường bộ để có sự so sánh và đề xuất sữa chữa hợp lý cho mặt đường trong khu vực nghiên cứu.
17068Đánh giá tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn glucose lúc đói
Đánh giá tình trạng kháng insulin dựa nồng độ glucose, insulin, nghiệm pháp dung nạp glucose, chỉ số HOMA-IR, QUICKI, ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn glucose lúc đói.
17069Đánh giá tình trạng kháng kháng sinh của Acinetobacter baumannii phân lập tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
A. baumannii là tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) phổ biến và nguy hiểm, đặc biệt tại Khoa hồi sức tích cực (ICU), với khả năng kháng đa thuốc cao, nhất là nhóm carbapenem, gây khó khăn trong điều trị và tăng tỷ lệ tử vong. Tại Việt Nam, tình trạng kháng thuốc và tử vong do A. baumannii đặc biệt nghiêm trọng, đòi hỏi nghiên cứu sâu về đặc điểm dịch tễ và đề kháng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và điều trị. Mục tiêu: Xác định đặc điểm dịch tễ và đánh giá tình hình kháng kháng sinh của A. baumannii tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Phương pháp: Nghiên cứu thực hiện trên 156 chủng A. baumannii phân lập tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Vi khuẩn được định danh và xác định đề kháng kháng sinh bằng hệ thống máy Phoenix M50. Kết quả: A. baumannii chủ yếu được phân lập tại Khoa ICU (51,3%), với nhiễm khuẩn đường hô hấp chiếm ưu thế (78,2%). Tỷ lệ kháng kháng sinh với nhiều nhóm kháng sinh như cephalosporin (68,6–72,3%), carbapenem (70–71%), aminoglycoside (55,2–72,4%) và fluoroquinolone (62,8-64,1%). Minocycline có tỷ lệ kháng thấp (6,5%), 100% chủng có kháng trung gian với colistin. Tỷ lệ cải thiện và xuất viện là 70,5%; tỷ lệ người bệnh diễn tiến nặng hoặc tử vong là 26,9%. Kết luận: A. baumannii là tác nhân chính gây NKBV tại Khoa ICU với mức độ kháng kháng sinh cao, đặc biệt đối với carbapenem và nhiều nhóm thuốc khác. Nghiên cứu nhấn mạnh cần tiếp tục giám sát kháng sinh, áp dụng chiến lược quản lý kháng sinh hợp lý và kiểm soát sự lan truyền vi khuẩn đa kháng trong Bệnh viện.
17070Đánh giá tình trạng khúc xạ giác mạc sau ghép giác mạc xuyên
Đánh giá tình trạng khúc xạ giác mạc trên 35 mắt của 35 bệnh nhân đã được ghép giác mạc xuyên tại Bệnh viện Mắt Trung ương trong thời gian 2 năm 2012-2013. Kết quả cho thấy sau phẫu thuật ghép giác mạc xuyên thị lực được cải thiện đáng kể nhưng không cao do hầu hết giác mạc ghép đều bị loạn thị với độ loạn thị khá cao. Độ loạn thị giảm dần theo thời gian và ổn định sau phẫu thuật 24 tháng.





