16301Đánh giá kết quả mổ mở đặt thông tenckhoff trong thẩm phân phúc mạc liên tục điều trị bệnh thận mạn giai đoạn cuối
Đánh giá kết quả mổ mở đặt thông Tenckhoff, dựa vào tỉ lệ thành công của lưu thông dịch (LTD) thẩm phân. Đánh giá tai biến và biến chứng của phương pháp đặt thông Tenckhoff có cắt mạc nối lớn (MNL) thường quy tại bệnh Viện Trưng Vương, thành phố Hồ Chí Minh.
16302Đánh giá kết quả ngắn và trung hạn phẫu thuật hạ đại tràng qua hậu môn điều trị bệnh Hirschsprung tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 - 2
Bệnh Hirschsprung là một bệnh lý bẩm sinh do sự vắng mặt của hạch thần kinh trong thành ruột. Phẫu thuật hạ đại tràng qua ngả hậu môn hiện là phương pháp điều trị tiêu chuẩn, nhưng vẫn còn tồn tại một số thách thức về biến chứng sau mổ. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu tiến cứu ở 84 bệnh nhi (BN) được điều trị bằng phẫu thuật hạ đại tràng qua ngả hậu môn tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 12/2022 đến tháng 6/2024 và Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 12/2023 đến 6/02024 nhằm đánh giá kết quả ngắn và trung hạn phương pháp này.
16303Đánh giá kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose và kháng insulin ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn glucose lúc đói
Đánh giá kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose và kháng insulin ở 230 bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn glucose lúc đói và so sánh với 230 người bình thường. Kết quả cho thấy tỷ lệ đái tháo đường, rối loạn dung nạp glucose ở nhóm tăng huyêt áp có rối loạn glucose máu lúc đói là 30,9% và 43% cao hơn so với nhóm chứng 7,0% và 27,8%. Kết quả insulin máu lúc đói ở nhóm nghiên cứu có giá trị trung bình là 13,09 + 11,76pU/ml, cao hơn ở nhóm chứng 6,57 ± 2,61pU/ml. Tỷ lệ kháng insulin theo HOMA-IR ở nghiên cứu là 64,8%, cao hơn nhóm chứng 24,8%. Tỷ lệ kháng insulin theo QUICKI của nhóm nghiên cứu là 63,9%, cao hơn nhóm chứng 24,8%.
16304Đánh giá kết quả nhận định nguy cơ tổn thương da do áp lực theo thang điểm Braden của điều dưỡng tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Đánh giá kết quả nhận định nguy cơ TTDDAL theo thang điểm Braden của điều dưỡng chăm sóc so với chuẩn vàng là điều dưỡng chuyên gia CSVT tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành từ 02/2025 đến 06/2025 trên 139 điều dưỡng thuộc các khối Nội, Ngoại và Hồi sức đã được tập huấn quy trình đánh giá TTDDAL. Mỗi điều dưỡng thực hiện một lượt đánh giá nguy cơ bằng thang Braden, so sánh với đánh giá độc lập của điều dưỡng chuyên gia chăm sóc vết thương (CSVT). Phân tích độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương/âm và hệ số Kappa được sử dụng. Kết quả: Độ tuổi trung bình của điều dưỡng là 33,8 ± 6,4; nữ giới chiếm 88,9%. Tỷ lệ đánh giá đúng so với chuyên gia đạt 94,2% (KTC 95%: 89,1–97,1). Độ nhạy 95,9% (KTC 95%: 88,7–98,6), độ đặc hiệu 92,3% (KTC 95%: 83,2–96,7), giá trị tiên đoán dương 93,4% (KTC 95%: 85,5–97,2), giá trị tiên đoán âm 95,2% (KTC 95%: 86,9–98,4). Hệ số Kappa đạt 0,884 (KTC 95%: 0,806–0,962), p < 0,001, phản ánh mức độ đồng thuận rất cao. Các yếu tố vận động và ma sát/trượt có độ chính xác cao nhất (≥ 96%), trong khi yếu tố dinh dưỡng có tỷ lệ sai nhiều nhất (12,2%). Kết luận: Điều dưỡng chăm sóc tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM có độ chính xác cao trong đánh giá nguy cơ TTDDAL bằng thang Braden so với điều dưỡng chuyên gia CSVT. Nghiên cứu gợi ý cần tăng cường đào tạo và giám sát đối với các yếu tố dễ sai sót, đặc biệt là dinh dưỡng, đồng thời tiếp tục chuẩn hóa quy trình đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa TTDDAL.
16305Đánh giá kết quả nút tắc ống ngực điều trị biến chứng rò dưỡng chấp sau mổ ung thư tuyến giáp
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả nút tắc ống ngực điều trị biến chứng rò dưỡng chấp sau mổ ung thư tuyến giáp điều trị bảo tồn thất bại. Về điều trị, với những bệnh nhân rò dưỡng chấp sau mổ ung thư tuyến giáp ưu tiên là bảo tồn chế độ ăn nuôi dưỡng tĩnh mạch, băng ép, hút áp lực âm,… Phương pháp điều trị nút tắc ống ngực được mô tả gần đây điều trị hiệu quả cho các trường hợp tràn dịch dưỡng chấp ổ bụng và lồng ngực. Về lâm sàng, 100% bệnh nhân hết rò dưỡng chấp sau can thiệp. Không có biến chứng liên quan đến can thiệp cũng như biến chứng ngắn hạn của việc nút tắc ống ngực. Nút tắc ống ngực là phương pháp điều trị hiệu quả những bệnh nhân rò dưỡng chấp ngoài da sau mổ ung thư tuyến giáp.
16306Đánh giá kết quả phác đồ hóa trị tân bổ trợ phối hợp hóa xạ trị đồng thời ung thư hạ họng thanh quản giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An
Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị và một số tác dụng không mong muốn của phác đồ hóa trị tân bổ trợ kết hợp hóa xạ trị đồng thời trên người bệnh ung thư hạ họng thanh quản giai đoạn III, IVA – B không phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu có theo dõi dọc tiến hành trên 39 người bệnh UTHH - TQ giai đoạn III, IVA – B không phẫu thuật điều trị hóa chất tân bổ trợ phác đồ Docetaxel - Cisplatin - 5Flourouracil (TCF) sau đó hóa xạ trị đồng thời với Carboplatin AUC 1.5 tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ an từ tháng 01/2018 đến tháng 8/2023. Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình 56,1 ± 5,71; 100% nam giới; giai đoạn IV chiếm phần lớn (80,7 %); tỉ lệ đáp ứng toàn bộ 76,9%; tỉ lệ kiểm soát bệnh 94,9%; trung vị thời gian PFS là 8,5 ± 0,98 tháng; trung vị thời gian sống còn toàn bộ là 18 ± 3,4 tháng. Độc tính: Độc tính thường gặp là hạ bạch cầu, trong đó hạ bạch cầu độ 3 chiếm 25,6% và hạ độ 4 chiếm 17,9%. Độc tính khác đều ở mức độ nhẹ và hồi phục khi ngừng điều trị. Kết luận: Phác đồ hóa trị tân bổ trợ TCF kết hợp hóa xạ trị đồng thời trên người bệnh UTHH - TQ giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật có tỉ lệ đáp ứng cao, thời gian sống thêm bệnh không tiến triển và sống còn toàn bộ dài, độc tính phác đồ dung nạp tốt, do đó có thể lựa chọn điều trị bước 1 cho các trường hợp UTHH - TQ giai đoạn III, IVA - B không phẫu thuật cần bảo tồn thanh quản.
16307Đánh giá kết quả phẫu thuật ALPPS - cắt gan 2 thì điều trị ung thư biểu mô tế bào gan
Đánh giá tỷ lệ thành công của phẫu thuật ALPPS, cắt gan hai thì thông qua mức độ phì đại gan bảo tồn sau ALPPS, tỷ lệ bệnh nhân đủ tiêu chuẩn cắt gan lớn mà trước đó không thể; Xác định tỷ lệ tai biến, biến chứng của phẫu thuật; Xác định gian sống thêm không bệnh và sống thêm toàn bộ của bệnh nhân sau phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp đoàn hệ tiến cứu, bắt đầu từ tháng 5/2018 - 6/2025 tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM. Tiêu chuẩn chọn bệnh là các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tế bào gan có chỉ định phẫu thuật cắt gan phải hoặc cắt gan thùy phải mà không đủ thể tích gan bảo tồn và không thể thực hiện kỹ thuật thuyên tắc tĩnh mạch cửa qua da. Kết quả nghiên cứu: Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 05/2018 đến 06/2025, chúng tôi có 60 trường hợp (TH) ung thư biểu mô tế bào gan thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu. Tuổi trung bình: 53,4 ± 12,3 , tỉ lệ nam: nữ là 5,5:1. Tất cả bệnh nhân (BN) có chức năng gan Child Pugh A. Kích thước u: trung vị 8,5 cm (2-15cm). Tỷ lệ có huyết khối tĩnh mạch cửa nhánh phải trên đại thể: 30 (50%). Ung thư biểu mô tế bào gan giai đoạn BCLC A chiếm 5,1% (3 trường hợp), B chiếm 37,3% (22 trường hợp), nhiều nhất giai đoạn C chiếm 57,6% (34 trường hợp). Các lý do chọn phẫu thuật ALPPS: Huyết khối tĩnh mạch cửa phải: 30 TH (50%), không thể thực hiện PVE do khối u gần chỗ hợp lưu tĩnh mạch cửa phải và trái 19 TH (31,67 %), đã thực hiện tắc tĩnh mạch cửa qua da (PVE) nhưng gan phì đại không đủ 09 TH (15%), có bất thường giải phẫu mạch máu: 01 TH (1,67%), u gan đa ổ 2 thùy mà các u gan bên trái nằm gần bề mặt gan có thể phẫu thuật cắt bỏ khu trú: 1 TH (1,67%). Tỉ lệ thực hiện phẫu thuật nội soi ALPPS ở thì 1 là 81,7%. Khoảng thời gian giữa 2 thì phẫu thuật trung vị là 24 ngày (5 – 146 ngày). Thể tích gan bảo tồn (bao gồm thể tích gan trái và hạ phân thùy 1) trước ALPPS 325,9 ml ± 71, sau ALPPS 527,6 ml ± 99,5. Tỷ lệ thể tích gan trung bình phì đại thêm so với ban đầu: 70,4 % ± 47,4. Sau ALPPS, 51 TH (85%) có thể thực hiện cắt gan lớn. Tỉ lệ biến chứng sau mổ thì 2 là 19,6%, bao gồm báng bụng kéo dài, nhiễm trùng vết mổ, rò mật và viêm phổ) Một TH tử vong sau mổ do viêm phổi, suy chức năng gan. Tỷ lệ sống thêm không bệnh và toàn bộ sau phẫu thuật 3, 6, 12 tháng tương ứng là 92,2%, 65,3%, 45,2% và 86%%, 82,4%, 82,4%. Kết luận: Phẫu thuật ALPPS - cắt gan 2 thì nhằm làm phì đại thể tích gan bảo tồn để thực hiện phẫu thuật cắt gan lớn theo giải phẫu có tỷ lệ thành công cao, giúp tăng cơ hội cắt gan loại trừ khối u với tỷ lệ 85%. Mặc dù có tỷ lệ tai biến, biến chứng và tử vong nhưng mang đến hiệu quả sống thêm không bệnh và toàn bộ tại thời điểm 3,6,12 tháng khá tốt. Tuy nhiên do là kỹ thuật mới và mẫu nghiên cứu còn nhỏ nên cần tiếp tục phát triển và nghiên cứu để đánh giá thêm ưu nhược điểm của một phương pháp điều trị mới đầy hứa hẹn này
16308Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II – IIIA tại Trung tâm Ung bướu Thái Nguyên giai đoạn 2015-2017
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II – IIIA và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật, một số biến chứng của phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn tại Trung tâm Ung bướu Thái Nguyên giai đoạn 2015-2017.
16309Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị che phủ khuyết hổng phần mềm bằng vạt Keystone tại Bệnh viện trung ương Huế
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng tổn thương khuyết hổng phần mềm của bệnh nhân được che phủ bằng vạt keystone. Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị che phủ khuyết hổng phần mềm bằng vạt keystone.
16310Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị hẹp khí quản tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị hẹp khí quản trên 81 trường hợp tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Kết quả cho thấy nguyên hân hẹp khí quản do sau mở khí quản có 31 ca (38,27%), ung thư khí quản thứ phát 27 ca (33,33%), Cắt nối khí quản tận - tận có 57 ca (70,37%), mở khí quản vĩnh viễn 19 ca (23,45%). Chiều dài đoạn khí quả cắt bỏ từ 17-51mm. trung bình là 27,5 ± 11,2mm. Thời gian phẫu thuật trung bình 88 ±25,1 phút, thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 11 + 2,7 ngày. Biến chứng sớm gặp với tỷ lệ 16,05% và biến chứng muộn có tỷ lệ 28,39%.





