16241Đánh giá đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng yếu tố liên quan và đánh giá kết quả điều trị suy thai trong chuyển dạ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ
Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, yếu tố liên quan và đánh giá kết quả điều trị suy thai trong chuyển dạ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy thai trong chuyển dạ là 67,82%. Ối vỡ chiếm 85,93%. Có 2 trường hợp sa dây rốn. Nhịp tim thai giảm chiếm 82,34%, chỉ số ối dưới 5 chiếm 16,41%, dây rốn quấn cổ chiếm 18,9% biến đổi chiếm 40,1%. Phương pháp mổ lấy thai chiếm 59,17%. Kết quả sau điều trị tốt chiếm 97,52%.
16242Đánh giá đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân ung thư biểu mô khoang miệng
Đánh giá đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và mối liên quan giữa di căn hạch vùng với độ mô học trên 32 bệnh nhân ung thư biểu mô khoang miệng. Nghiên cứu cho thấy kích thước u càng lớn thì tỷ lệ di căn hạch vùng càng cao. Không có mối liên quan giữa tỷ lệ di căn hạch vùng với độ mô học của ung thư biểu mô khoang miệng.
16243Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt
Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt. Đánh giá kết quả sớm sau điều trị phẫu thuật tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt tại Bệnh viện Trung ương Huế.
16244Đánh giá đặc điểm rửa trôi của bê tông cốt sợi PET thải trong môi trường nước nhiễm phèn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá đặc điểm rửa trôi của bê tông cốt sợi PET trong môi trường nước nhiễm phèn. Các mẫu bê tông thử nghiệm có hàm lượng cốt sợi cố định ở 0,45% thể tích gồm F00 (mẫu đối chứng không có cốt sợi), F2-5, F4-3, F4-5, F6-5 và F4-7 (con số sau kí tự F lần lượt thể hiện độ rộng và chiều dài sợi theo đơn vị mm). Các mẫu bê tông sau khi dưỡng hộ đến 28 ngày ở điều kiện thông thường được ngâm trong môi trường nước với độ pH tương đương 3,5; 5,0 và 6,0. Axít axetat được sử dụng để điều chỉnh pH trong suốt 30 ngày thí nghiệm. Đặc điểm rửa trôi của bê tông được đánh giá thông qua các chỉ số chất lượng nước gồm độ pH, độ mặn, TDS, ORP và độ dẫn điện. Các kết quả ghi nhận cho thấy chất lượng nước ngâm mẫu bê tông F2-5 ít khác biệt nhất so với mẫu F00, trong khi mẫu F6-5 có khác biệt lớn nhất so với mẫu F00. Chất lượng nước ngâm của các mẫu bê tông F4-3, F4-5 và F4-7 khá tương đồng với nhau. Như vậy, mẫu bê tông sử dụng cốt sợi có độ rộng càng lớn so với chiều dài sợi sẽ có độ xốp lớn làm tăng khả năng giải phóng các thành phần vật chất khi hoạt động trong môi trường nước nhiễm phèn. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để chọn tỷ lệ chiều dài và độ rộng của cốt sợi phù hợp cho việc sản xuất bê tông cốt sợi ứng dụng cho các công trình xây dựng ở những khu vực nước bị nhiễm phèn.
16245Đánh giá đáp ứng điều trị bệnh mắt Basedow bằng truyền tĩnh mạch Corticoid sử dụng thang điểm CAS
Nghiên cứu nhằm đánh giá đáp ứng điều trị corticoid tĩnh mạch ở những bệnh nhân mắc bệnh mắt Basedow hoạt động, mức độ trung bình, nặng hoặc rất nặng dựa trên thang điểm CAS. Nghiên cứu tiến hành trên 13 bệnh nhân được điều trị corticoid tĩnh mạch từ tháng 8 năm 2022 đến tháng 12 năm 2023 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, không có nhóm chứng.
16246Đánh giá đáp ứng điều trị với Entecavir ở bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn tính hoạt động có HBeAg dương tính và âm tính
Nghiên cứu trên 70 bệnh nhân viêm gan B mạn tính (45 bệnh nhân HBeAg (+) và 25 bệnh nhân HBeAg (-)) tại khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Quân y 103 và Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện đa khoa Đống Đa, Hà Nội, từ tháng 1/2013-7/2014 cho thấy: Triệu chứng cơ năng như mệt mỏi, chán ăn, đau tức vùng gan trước điều trị chiếm tỷ lệ 76,29 phần trăm, 50 phần trăm, 2,86 phần trăm; triệu chứng thực thể gồm gan to và vàng da chỉ chiếm 21,34 phần trăm, không có sự khác biệt về ALT, bilirubin Tp trong máu ở 2 nhóm. Nồng độ HBV - DNA trung bình ở nhóm HBeAg (+) là 7,13 +-1,07 cao hơn nhóm HBeAg (-) là 6,32 +- 1,28 (p0,001). Các triệu chứng lâm sàng sau 48 tuần điều trị giảm rõ rệt, tỷ lệ bình thường hóa men gan và nồng độ bilirubin máu cao sau 12 và 48 tuần, không có sự khác biệt giữa 2 nhóm. Tỷ lệ đạt được nồng độ HBV - DNA dưới ngưỡng phát hiện sau 12 tuần ở nhóm HBeAg (-) cao hơn so với nhóm HbeAg (+) (p,0,05). Tỷ lệ chuyển đảo huyết thanh HBeAg sau 12, 24 và 48 tuần điều trị đạt 15,55 phần trăm, 22,22 phần trăm và 29,26 phần trăm. Sau 48 tuần, có 26,83 phần trăm ở bệnh nhân nhóm HBeAg (+), 84 phần trăm ở nhóm HBeAg (-) đạt đáp ứng hoàn toàn.
16247Đánh giá đáp ứng sau 3 tháng xạ trị lập thể định vị thân ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm theo tiêu chuẩn RECIST và PERCIST
Đánh giá đáp ứng sau 3 tháng xạ trị lập thể định vị thân ở bệnh nhân (BN) ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn I với u phổi ngoại vi theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 và PERCIST 1.0. Đây là nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc 32 BN UTPKTBN giai đoạn T1-T2aN0M0 với u phổi ngoại vi, được xạ trị lập thể định vị thân và đánh giá sau 3 tháng từ tháng 01/2015 đến 03/2022.
16248Đánh giá đáp ứng sau hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ Docetaxel, Carboplatin và Trastuzumab ở bệnh nhân ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính giai đoạn II, III
Ung thư vú là bệnh lý ác tính thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Lợi ích của trastuzumab khi kết hợp vào hóa trị tân hỗ trợ trong bệnh ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính đã được chứng minh qua rất nhiều nghiên cứu. Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đánh giá đáp ứng sau hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab ở những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca bệnh nhân ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính được hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab tại khoa Nội tuyến vú, tiêu hóa, gan, niệu Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/6/2021. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú nguyên phát có giải phẫu bệnh là carcinôm xâm nhiễm, giai đoạn II, III theo AJCC 8th. Kết quả: Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/6/2021 chúng tôi thu nhận được 124 trường hợp carcinôm vú có thụ thể HER2 dương tính giai đoạn II, III được hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu, trong đó có 121 trường hợp được phẫu thuật sau hóa trị tân hỗ trợ. Giai đoạn bướu trước điều trị hơn 50% bệnh nhân ở giai đoạn cT4, 71,2% có di căn hạch trên lâm sàng và giai đoạn III chiếm 74,2%. Tất cả bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được hóa trị tân hỗ trợ đủ 6 chu kỳ. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ (ORR) là 82,3%, trong đó tỷ lệ đáp ứng lâm hoàn toàn, đáp ứng một phần, bệnh ổn định và bệnh tiến triển lần lượt là 12,9%, 69,4%, 14,5% và 3,2%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học tại bướu là 62%, tại hạch là 72,7% và tại bướu và hạch (tpCR) là 52,9%. Độc tính hóa trị tân hỗ trợ: 5,6% giảm bạch cầu đa nhân trung tính độ 3 – 4, 8,1% giảm hồng cầu độ 3 – 4, 2,4% giảm tiểu cầu độ 3, và không có trường hợp nào tăng nhịp tim và suy tim, chỉ có 3,2% trường hợp giảm LVEF ≥ 15%. Kết luận: Nghiên cứu này cho thấy phác đồ hóa trị tân hỗ trợ docetaxel, carboplatin và trastuzumab có tỷ lệ đáp ứng lâm sàng toàn bộ và đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học cao. Trong khi đó, độc tính hóa trị tân hỗ trợ thấp và có thể theo dõi, kiểm soát được.
16249Đánh giá đáp ứng sau hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ Docetaxel, Carboplatin và Trastuzumab ở bệnh nhân ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính giai đoạn II, III
Ung thư vú là bệnh lý ác tính thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Lợi ích của trastuzumab khi kết hợp vào hóa trị tân hỗ trợ trong bệnh ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính đã được chứng minh qua rất nhiều nghiên cứu. Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm đánh giá đáp ứng sau hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab ở những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca bệnh nhân ung thư vú có thụ thể HER2 dương tính được hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab tại khoa Nội tuyến vú, tiêu hóa, gan, niệu Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/6/2021. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú nguyên phát có giải phẫu bệnh là carcinôm xâm nhiễm, giai đoạn II, III theo AJCC 8th. Kết quả: Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/6/2021 chúng tôi thu nhận được 124 trường hợp carcinôm vú có thụ thể HER2 dương tính giai đoạn II, III được hóa trị tân hỗ trợ bằng phác đồ docetaxel, carboplatin và trastuzumab thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu, trong đó có 121 trường hợp được phẫu thuật sau hóa trị tân hỗ trợ. Giai đoạn bướu trước điều trị hơn 50% bệnh nhân ở giai đoạn cT4, 71,2% có di căn hạch trên lâm sàng và giai đoạn III chiếm 74,2%. Tất cả bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được hóa trị tân hỗ trợ đủ 6 chu kỳ. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ (ORR) là 82,3%, trong đó tỷ lệ đáp ứng lâm hoàn toàn, đáp ứng một phần, bệnh ổn định và bệnh tiến triển lần lượt là 12,9%, 69,4%, 14,5% và 3,2%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học tại bướu là 62%, tại hạch là 72,7% và tại bướu và hạch (tpCR) là 52,9%. Độc tính hóa trị tân hỗ trợ: 5,6% giảm bạch cầu đa nhân trung tính độ 3 – 4, 8,1% giảm hồng cầu độ 3 – 4, 2,4% giảm tiểu cầu độ 3, và không có trường hợp nào tăng nhịp tim và suy tim, chỉ có 3,2% trường hợp giảm LVEF ≥ 15%. Kết luận: Nghiên cứu này cho thấy phác đồ hóa trị tân hỗ trợ docetaxel, carboplatin và trastuzumab có tỷ lệ đáp ứng lâm sàng toàn bộ và đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học cao. Trong khi đó, độc tính hóa trị tân hỗ trợ thấp và có thể theo dõi, kiểm soát được.
16250Đánh giá đau lan tỏa, khuyết tật chức năng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân gút
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 81 bệnh nhân gút cấp và mạn tính được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ACR/EULAR 2015, điều trị tại Trung tâm Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2025 đến tháng 4/2026. Kết quả cho thấy, tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 53,7 ± 15,3; 91,4% nam giới, chỉ số khuyết tật chức năng trung vị là 0,875 (IQR: 0,375 – 1,25). Có 20/81 bệnh nhân xuất hiện tình trạng tăng nhạy cảm đau lan tỏa theo bộ câu hỏi Generalized Pain Questionnaire, chiếm tỷ lệ 24,7%. Trong nhóm bệnh nhân có đau lan tỏa, các triệu chứng gặp phổ biến nhất gồm đau khi có kích thích nhẹ trên bề mặt da (100%), đau sau ma sát (95%), đau kéo dài sau khi kích thích đã chấm dứt (100%) và cảm giác đau dữ dội hơn bình thường khi tiếp xúc với kích thích (100%). Phân tích hồi quy logistic đa biến, mô hình đạt chỉ số AUC là 0,943; p < 0,001; 95% CI: 0,892 – 0,995, mức độ đau khớp theo VAS và nồng độ acid uric trong huyết thanh được xác định là các yếu tố dự báo độc lập với tình trạng đau lan tỏa, trong đó điểm đau khớp theo VAS có vai trò nổi bật (p = 0,006), OR = 8,132 (95% CI: 1,818 – 36,37).





