16221Đánh giá hiệu suất xử lý nước thải làng nghề bánh tráng bằng công nghệ bùn hoạt tính bổ sung chế phẩm sinh học
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu suất xử lý nước thải làng nghề bánh tráng bằng công nghệ bùn hoạt tính bổ sung chế phẩm sinh học.
16222Đánh giá hình ảnh niệu đạo nữ trên cộng hưởng từ động học sàn chậu ở bệnh nhân có rối loạn tiểu tiện không tự chủ khi gắng sức
Nghiên cứu so sánh các thông số hình ảnh niệu đạo nữ trên cộng hưởng từ động học sàn chậu giữa nhóm bệnh (22 bệnh nhân) với nhóm không có rối loạn tiểu tiện không tự chủ khi gắng sức (21 bệnh nhân) nhằm tìm các bất thường giải phẫu liên quan.
16223Đánh giá hình thái bọng kết mạc bằng OCT phần trước sau phẫu thuật đặt van Ahmed
Bọng kết mạc sau phẫu thuật đặt van Ahmed có vai trò quan trọng trong việc dẫn lưu thủy dịch và ảnh hưởng thành công phẫu thuật. Mục tiêu nghiên cứu mô tả hình thái bọng kết mạc sau phẫu thuật đặt van Ahmed và đề xuất bảng phân loại bọng dựa trên đặc điểm lâm sàng và thông số trên OCT phần trước (AS-OCT). Phương pháp: Nghiên cứu quan sát với 48 bệnh nhân đã phẫu thuật đặt van Ahmed được theo dõi các thời điểm tái khám: 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng. Các thông số AS-OCT được ghi nhận và phân tích mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng. Tính thành công phẫu thuật khi nhãn áp sau phẫu thuật dưới 21 mmHg với tối đa 2 loại thuốc hạ nhãn áp. Kết quả: Các đặc điểm lâm sàng về mạch máu bề mặt và độ trong suốt của bọng có mối liên quan với pha tăng áp và tính thành công phẫu thuật (p<0,05). Trên AS-OCT lúc 1 tháng sau phẫu thuật, chiều dày thành bọng giảm, mật độ thành tăng, có mối liên quan có ý nghĩa với pha tăng áp (p<0,05). Các thông số bọng trên AS-OCT (chiều dày thành, mật độ thành, chiều cao bọng, vi nang) có mối liên quan có ý nghĩa với tính thành công phẫu thuật (p<0,05). Kết luận: Hình thái bọng kết mạc trên lâm sàng và trên AS-OCT có mối liên quan với tính thành công của phẫu thuật và pha tăng áp. Bảng phân loại bọng kết mạc cho thấy tiềm năng trong việc phân tích và dự đoán kết quả phẫu thuật đặt van Ahmed.
16224Đánh giá hoạt động chi ngân sách nhà nước cho chống biến đổi khí hậu tại Việt Nam : định hướng và giải pháp
Bài viếti đã tìm hiểu về những tác động của biến đổi khí hậu đến nền kinh tế Việt Nam, đưa ra thực trạng hoạt động chi ngân sách cho biến đổi khí hậu tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài báo đã đưa ra một số định hướng và giải pháp đối với hoạt động chi ngân sách cho các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu.
16225Đánh giá hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam
Tìm hiểu thực trạng hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số gợi ý nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của các tổ chức này.
16226Đánh giá hoạt động mua bán và sáp nhập ngân hàng thương mại Việt Nam: bài học kinh nghiệm từ vụ SHB-HBB
Trình bày thực trạng hoạt động M&A ngành ngân hàng Việt Nam và đề xuất một số bài học kinh nghiệm từ thương vụ SHB-HBB.
16227Đánh giá hoạt động mua, bán nợ thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt và đề xuất giải pháp
1. Tổng quan hoạt động mua, bán nợ thanh toán bằng TPĐB. 2. Kết quả mua, bán, xử lý nợ bằng TPĐB của VAMC từ năm 2013 đến nay. 3. Khó khăn, vướng mắc trong hoạt động mua, bán, xử lý nợ bằng TPĐB của VAMC. 4. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mua, bán nợ bằng TPĐB.
16228Đánh giá hoạt động Quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản tư nguồn Ngân sách Nhà nước - Trường hợp của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Lạng Sơn
Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn Ngân sách Nhà nước (NSNN) những năm qua tại Việt Nam, đã góp phần quan trọng trong phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hỗ trợ phát triển sản xuất - kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước nhà. Tuy nhiên, hiện tượng nợ đọng vốn, tiến độ thi công chậm hiệu quả hoạt động ở nhiều công trình trong thời gian qua cũng cho thấy công tác quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều hạn chế. Bài viết tập trung, đánh giá hoạt động Quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bàn từ nguồn Ngân sách Nhà nước tại Ban quản lý dự án cấp tỉnh, với trường hợp điển hình của tỉnh Lạng Sơn, nhằm làm rõ những tồn tại cần khắc phục trong công tác quản lý chi đầu tư nói chung. Từ đó đề xuất các giải pháp, góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bàn từ nguồn Ngân sách Nhà nước và các nội dung quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý đầu tư xây dựng tỉnh Lạng Sơn.
16229Đánh giá hoạt động quản lý thuế nhằm thúc đẩy tuân thủ của người nộp thuế
Bài viết đánh giá kết quả và hạn chế tiềm ẩn trong công tác quản lý thuế, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường hoạt động quản lý thuế, góp phần thúc đẩy tính tuân thủ của người nộp thuế, phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số, tiến tới số hóa dữ liệu ngành Thuế tại Việt Nam.
16230Đánh giá hoạt động thể lực của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp điều trị tại Khoa Nội cơ xương khớp bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được thực hiện nhằm đánh giá hoạt động thể lực của những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đang điều trị tại Khoa Nội cơ xương khớp, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Kết quả cho thấy, đa phần người bệnh viêm khớp dạng thấp đi bộ với khoảng cách ngắn và tiêu tốn ít năng lượng cho việc đi bộ. Khoảng cách đi bộ trung bình của người bệnh viêm khớp dạng thấp một ngày khoảng 383,3 mét tương đương tiêu tốn khoảng 23 Kcalo cho việc đi bộ. Một ngày người bệnh viêm khớp dạng thấp cũng chỉ phải tiêu tốn trung bình khoảng 10 Kcalo cho việc leo cầu thang hoặc bậc thềm. Số giờ trung bình sử dụng cho hoạt động gắng sức mức độ nặng và trung bình của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp ở mức độ thấp trong đó hoạt động gắng sức mức độ nặng chỉ chiếm khoảng 1,2 giờ; hoạt động gắng sức ở mức độ trung bình chiếm 3,7; Hoạt động gắng sức nhẹ chiếm 5,5 giờ, hoạt động tại chỗ chiếm 6,2 giờ và hoạt động ngủ nghỉ chiếm 7,2 giờ. Số giờ trung bình sử dụng cho hoạt động thể lực gắng sức nặng và trung bình giảm dần theo độ tuổi. Trong khi số giờ trung bình sử dụng cho hoạt động gắng sức mức độ nhẹ và hoạt động tại chỗ tăng theo độ tuổi. Từ đó có thể đưa ra kết luận, hoạt động thể lực của người bệnh viêm khớp dạng thấp giảm sút so với bình thường.