16061Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phương pháp hút huyết khối trực tiếp bằng ống thông trong điều trị đột quỵ cấp tắc động mạch não giữa đoạn M1
Tắc động mạch não giữa (ĐMNG) đoạn M1 là nguyên nhân thường gặp của đột quỵ do tắc mạch lớn, gây tàn phế và tử vong cao, bằng chứng thực hành thường quy cho chiến lược hút trực tiếp (ADAPT-A Direct Aspiration First Pass Technique) còn hạn chế. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phương pháp hút huyết khối do tắc đoạn M1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy 01/2023 - 06/2025 các bệnh nhân đột quỵ tắc ĐMNG đoạn M1 được can thiệp lấy huyết khối. Các biến số chính: hiệu quả tái thông mTICI, hiệu quả phục hồi lâm sàng mRS 90 ngày, xuất huyết não, tử vong, biến chứng thủ thuật. Kết quả: 61 ca, tuổi trung bình 65 tuổi, tái thông thành công mTICI≥2b lượt đầu 71,1%, mTICI ≥2b cuối 96,7%. Tỷ lệ độc lập chức năng (mRS 0-2) 90 ngày 54,1%, tử vong 18%, thời gian tái thông 20 phút, xuất huyết não có triệu chứng 13,1%, biến chứng bóc tách, co thắt 4,9%, thuyên tắc mới 3,3%, không có trường hợp thủng mạch máu. Kết luận: Can thiệp nội mạch hút huyết khối trong tắc ĐMNG đoạn M1 cho thấy tỷ lệ tái thông cao, thời gian tái thông nhanh, cải thiện kết cục chức năng với biến chứng thấp.
16062Đánh giá hiệu quả và độc tính của các thuốc EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR
Đánh giá hiệu quả và độc tính của các thuốc EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu những bệnh nhân (BN) UTPKTBN giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR được điều trị bước một với EGFR TKI thế hệ 1 hoặc 2 tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM trong thời gian từ 01/01/2019 đến 31/12/2023. Kết quả bao gồm tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR), thời gian thất bại điều trị (TTF), tỷ lệ sống còn toàn bộ (OS) và tỷ lệ độc tính làm giảm liều hoặc ngừng điều trị. Kết quả: Tổng cộng có 282 BN, trong đó 95 BN dùng Erlotinib, 106 BN dùng Gefitinib và 81 BN dùng Afatinib. Tỷ lệ đáp ứng khách quan của nhóm Erlotinib, Gefitinib và Afatinib lần lượt là 69,5%; 73,6% và 60,5%. Trung vị thời gian thất bại điều trị của nhóm Erlotinib là 16,2 tháng; của nhóm Gefitinib là 14,2 tháng và của nhóm Afatinib là 18,9 tháng. Trung vị thời gian sống còn toàn bộ của nhóm Erlotinib là 24,4 tháng; nhóm Gefitinib là 23,5 tháng và nhóm Afatinib là 28,9 tháng. Tỷ lệ giảm liều của 3 nhóm là 14,7% ở nhóm Erlotinib; 6,6% ở nhóm Gefitinib và 39,5% ở nhóm Afatinib. Tỷ lệ ngừng điều trị do độc tính nặng là 0,94% ở nhóm Gefitinib; 2,5% ở nhóm Afatinib và không có trường hợp nào phải ngừng thuốc vĩnh viễn ở nhóm Erlotinib. Kết luận: Điều trị bước 1 bằng các EGFR TKI thế hệ 1 và 2 trên các BN UTPKTBN giai đoạn tiến xa hoặc di căn có đột biến EGFR cho thấy có hiệu quả tốt với tỷ lệ đáp ứng, thời gian thất bại điều trị cũng như thời gian sống còn toàn bộ, bên cạnh đó các tác dụng phụ không mong muốn có thể kiểm soát được.
16063Đánh giá hiệu quả và độc tính của xạ trị ngắn ngày tiền phẫu ung thư trực tràng giai đoạn II – III đối với bệnh nhân ≥ 70 tuổi hoặc chống chỉ định hóa trị
Khảo sát độc tính cấp của điều trị, tỷ lệ đáp ứng sau xạ, sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ của bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn II – III ≥ 70 tuổi hoặc chống chỉ định hóa trị, được xạ trị tiền phẫu bằng phác đồ ngắn ngày và phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca hồi cứu 11 bệnh nhân được xạ trị vùng chậu tiền phẫu phác đồ 5Gy x 5 tại Khoa Xạ trị tổng quát, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 6/2021 đến tháng 5/2024. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 78,8 tuổi (68 - 89). Cả 100% đều bị tăng huyết áp, kèm theo các suy tim (2 bệnh nhân), đái tháo đường (3 bệnh nhân), suy thận mạn độ 2 (4 bệnh nhân). Có 5 bệnh nhân (45,4%) bướu ở trực tràng thấp. Về xếp giai đoạn, chiếm ưu thế với 10 bệnh nhân bướu cT3 (90,9%) và hạch cN1 (54,5%). Trung vị thời gian từ lúc xạ trị xong đến phẫu thuật là 5,0 tuần. Có 3 bệnh nhân (27,3%) phẫu thuật Miles và 1 bệnh nhân (9,1%) phẫu thuật Hartmann, số còn lại được cắt trước thấp. Chỉ có 2 bệnh nhân (18,2%) hóa trị sau mổ. Tỷ lệ đạt đáp ứng hoàn toàn sau mổ (pCR) là 9,1% (1 trường hợp). Có 2 bệnh nhân (18,2%) bị độc tính tiêu hóa grad 1 do xạ. Với trung vị thời gian theo dõi 6,0 tháng, có 3 bệnh nhân tái phát tiến triển (27,3%) và 1 bệnh nhân (9,1%) tử vong do tai biến mạch máu não. Xác suất sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ 2 năm lần lượt là 72,7% và 90,9%. Kết luận: Xạ trị ngắn ngày tiền phẫu trong ung thư trực tràng ít tác dụng phụ, giảm kích thước bướu tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật, thích hợp cho những bệnh nhân không thể thực hiện được hóa xạ trị đồng thời.
16064Đánh giá hiệu quả và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn tại Công ty TNHH R-PAC Việt Nam
Đánh giá hiệu quả của mô hình kinh tế tuần hoàn đối với hai khía cạnh là môi trường và kinh tế. Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình kinh tế tuần hoàn tại doanh nghiệp, cơ sở lý luận về kinh tế tuần hoàn và là tài liệu hữu ích để các doanh nghiệp áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn một cách nhanh chóng, hiệu quả.
16065Đánh giá hiệu quả vận động sớm trên bệnh nhân tai biến mạch máu não đang điều trị tại Khoa phục hồi chức năng - Y học cổ truyền TTYT quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng
Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động của người bệnh sau tai biến mạch máu não bằng phương pháp Bobath. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới kết quả phục hồi chức năng vận động trên bệnh nhân tai biến mạch máu não.
16066Đánh giá hiệu quả vận động trị liệu kết hợp vật lý trị liệu trong điều trị bệnh nhân viêm khớp vai thể đơn thuần
Viêm quanh khớp vai là bệnh thường gặp trong lâm sàng phục hồi chức năng, bệnh này có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lao động và sinh hoạt của người bệnh. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả vận động trị liệu kết hợp vật lý trị liệu trong điều trị bệnh nhân viêm quanh khớm vai thể đơn thuần.
16067Đánh giá hiệu quả việc sử dụng nhựa 40/50 để sản xuất bê tông nhựa làm mặt đường ô tô ở Việt Nam
Trên cơ sở phân tích, đánh giá kết quả thí nghiệm trong phòng của bê tông nhựa sử dụng nhựa 40/50 với bê tông nhựa sử dụng nhựa 60/70, kết quả dự báo tuổi thọ của kết cấu áo đường mềm sử dụng hai loại bê tông nhựa này bằng phương pháp cơ học thực nghiệm, bài báo đánh giá hiệu quả bước đầu việc sử dụng nhựa 40/50 để sản xuất bê tông nhựa trong điều kiện khai thác ở nhiệt độ cao và quy mô giao thông lớn ở Việt Nam.
16068Đánh giá hiệu quả việc sử dụng phụ gia hạt nhựa tái chế (HDPE) để sản xuất bê tông nhựa làm mặt đường ô tô
Đánh giá hiệu quả bước đầu việc sử dụng hạt nhựa tái chế (HDPE) làm phụ gia để sản xuất bê tông nhựa trong điều kiện khai thác ở tỉnh Tây Ninh.
16069Đánh giá hiệu quả xử lý bùn thải của Pilot xử lý bùn thải hữu cơ nhằm thu hồi khí Biogas
Đánh giá hàm lượng các chất ô nhiễm có trong bùn thải. Đánh giá hiệu quả xử lý bùn thải của hệ thống quy mô pilot. Đánh giá tổng quát được lượng khí sinh học thu được trong thời gian xử lý.
16070Đánh giá hiệu quả xử lý nước suối bằng công nghệ siêu màng lọc (UF) kết hợp vật liệu lọc đa năng để cấp nước sinh hoạt phi tập trung khu vực miền núi Tây Bắc
Nhu cầu cấp nước sinh hoạt ngày càng gia tăng. Trước đây các phương pháp truyền thống đã giải quyết được vấn đề xử lý ô nhiễm trong nước mặt để cấp nước sinh hoạt và ăn uống. Sơ đồ công nghệ truyền thống chủ yếu là làm trong nước kết hợp nước có độ oxy hóa cao thì kết hợp cho hóa sơ bộ để xử lý các chất ô nhiễm này.





