15941Đánh giá hiệu quả của việc giáo dục sức khỏe bệnh tiêu chảy cấp cho các bà mẹ có con bị tiêu chảy cấp tại Khoa Tiêu hóa Bệnh viện Nhi trung ương
Nghiên cứu cho thấy kiến thức về bệnh cũng như cách thức xử trí khi trẻ bị tiêu chảy của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp còn hạn chế. Có sự cải thiện đáng kể về kiến thức chăm sóc trẻ mắc tiêu chảy sau giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ trong quá trình điều trị.
15942Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng Natri Sunfat đến cường độ nén ban đầu của hệ nền xi măng – tro bay
Khảo sát ảnh hưởng của việc sử dụng natri sunfat đến tính chất của hệ nền xi măng – tro bay với tỷ lệ nước trên chất kết dính thấp để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng này. Trong phần thực nghiệm, hỗn hợp hồ được chuẩn bị với hai tỷ lệ nước trên chất kết dính là 0,25 và 0,35. Hàm lượng tro bay loại F được sử dụng thay thế xi măng Porland thay đổi từ 0%, 20% đến 40% theo khối lượng.
15943Đánh giá hiệu quả của việc thay thế một phần xi măng bằng tro bay chưa qua tuyển của nhà máy nhiệt điện Hải Phòng đến tính tỏa nhiệt của bê tông khối lớn
Hiệu quả của việc sử dụng tro bay trong bê tông nói chung và bê tông khối lớn nói riêng là khá rõ ràng và đã có nhiều nghiên cứu. Tuy nhiên, chất lượng trong bay tại các nhà máy nhiệt điện khác nhau là rất khác nhau, nó ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả khi sử dụng trong bê tông và phụ thuộc chủ yếu vào: nguồn gốc than của nhà máy nhiệt điện, công nghệ đốt than, công nghệ tuyển tro…Bài báo đề cập đến hiệu quả của việc thay thế một phần xi măng bằng tro bay nhà máy nhiệt điện Hải Phòng chưa qua tuyển đến tính tỏa nhiệt của bê tông khối lớn.
15944Đánh giá hiệu quả của xét nghiệm sàng lọc alen HLA-A*31:01 và HLA-B*15:02 bằng kỹ thuật multiplex real-time PCR trong giảm nguy cơ dị ứng thuốc Carbamazepine
Hai đa hình kháng nguyên bạch cầu người HLA-A*31:01 và HLA-B*15:02 đã được chứng minh có liên quan chặt chẽ với các phản ứng có hại nghiêm trọng trên da (SCAR) do Carbamazepine (CBZ) gây ra và được khuyến cáo cần phải sàng lọc cho các bệnh nhân trước khi sử dụng CBZ để giảm nguy cơ dị ứng thuốc. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã áp dụng xét nghiệm sàng lọc đồng thời HLA-A*31:01 và HLA-B*15:02 bằng kỹ thuật multiplex real-time PCR Taqman Locked-nucleic acid (LNA) probe có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trên 35 bệnh nhân được chẩn đoán mắc các bệnh lý thần kinh.
15945Đánh giá hiệu quả đánh bắt cá ngừ đại dương tại Việt Nam
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu đánh bắt cá ngừ trong giai đoạn 2011-2017 để đánh giá hiệu quả đánh bắt cá ngừ đại dương tại Việt Nam. Kết quả nghien cứu cho thấy, hiện nay tương đối hạn chế, hầu hết các nghiên cứu chỉ đánh giá trên phạm vi nhỏ, thời gian đánh giá ngắn. Vì vậy khuyến nghị Chính phủ cần có chính sách hợp lý đối với nghề khai thác cá ngừ nhằm nâng cao hiệu quả về quy mô và duy trì mức hiệu quả kỹ thuật.
15946Đánh giá hiệu quả điều trị áp xe gan kết hợp điều trị nội khoa và dẫn lưu bằng sonde pigtail
Đánh giá hiệu quả lâm sàng và cận lâm sàng của dẫn lưu áp xe qua da trong điều trị áp xe gan.
15947Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh basedow bằng iod phóng xạ (I-131)
I-131 là một trong ba phương pháp điều trị hiệu quả bệnh Basedow (nội khoa, phẫu thuật, I- 131). Để đánh giá hiệu quả điều trị bệnh Basedow bằng I-131, chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 39 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Basedow từ tháng 01/2022 đến tháng 8/2024 tại khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng với hai mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh Basedow bằng I-131 và xác định một số yếu tố liên quan tới kết quả điều trị. Kết quả: Liều điều trị I-131 trung bình là 9,08 ± 1,55mCi. Hiệu quả điều trị đạt được ở 29/39 bệnh nhân (74,4%) với 18 bệnh nhân suy giáp (46,2%) và 11 bệnh nhân bình giáp (28,2%), có 10/39 bệnh nhân (25,6%) vẫn còn cường giáp. Các yếu tố có liên quan tới kết quả điều trị bao gồm thể tích tuyến giáp và liều điều trị I-131. Kết luận: Hiệu quả điều trị bệnh Basedow cao nhất khi dùng liều 10mCi (370mBq) có ý nghĩa về mặt thống kê. Nghiên cứu cho thấy với những trường hợp thể tích tuyến giáp trên 30ml mang lại hiệu quả kém hơn, trong khi tuổi bệnh nhân không có mối liên quan tới hiệu quả điều trị.
15948Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh gút mạn tính có tăng acid uric máu tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Bộ Công An
Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh gút mạn tính có tăng acid uric máu tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng mở, so sánh trước - sau điều trị và so sánh với nhóm đối chứng. 120 bệnh nhân gút mạn tăng acid uric máu được chia làm 2 nhóm: nhóm nghiên cứu dùng viên nén bao phim GT1 và nhóm đối chứng dùng Allopurinol trong 30 ngày. Kết quả: Sau 30 ngày điều trị, nồng độ acid uric máu của nhóm nghiên cứu giảm trung bình 107,25 μmol/L; 70% bệnh nhân đạt mức acid uric chuẩn, thấp hơn so với nhóm đối chứng (93,33%). Phân loại đáp ứng cho thấy: tốt 25%, khá 61,67%, trung bình 13,33%, không có đáp ứng kém. Kết luận: GT1 có tác dụng hạ acid uric và cải thiện lâm sàng nhưng hiệu quả hạ acid uric thấp hơn Allopurinol; thuốc an toàn, ít tác dụng phụ, có thể dùng cho bệnh nhân không dung nạp Allopurinol hoặc phối hợp hỗ trợ điều trị.
15949Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh nhân tâm thần phân liệt paranoid đáp ứng kém với thuốc bằng kỹ thuật sốc điện một bên
Đánh giá hiệu quả điều trị trên 15 bệnh nhân tâm thần phân liệt paranoid đáp ứng kém với thuốc bằng kỹ thuật sốc điện một bên. Kết quả cho thấy 100% bệnh nhân hết hoang tưởng ảo giác và hành vi ổn định. Sốc điện một bên có hiệu quả điều trị tốt trên bệnh nhân tâm thần phân liệt paranoid đáp ứng kém với thuốc.
15950Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh rối loạn chuyển hóa lipid máu của bài thuốc HSN trên lâm sàng
Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh rối loạn chuyển hóa lipid máu của cao lỏng HSN trên lâm sàng. Đánh giá tác dụng không mong muốn của cao lỏng HSN.





