Kết quả tìm kiếm
Có 82790 kết quả được tìm thấy
11131Chất lượng cuộc sống của người bệnh đau thắt ngực không ổn định trước và sau can thiệp động mạch vành qua da tại Viện Tim mạch năm 2016

So sánh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đau thắt ngực không ổn định trước và sau can thiệp động mạch vành qua da tại Viện Tim mạch Việt Nam năm 2016.

11132Chất lượng cuộc sống của người bệnh loét dạ dày- tá tràng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2021

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc trên 87 người bệnh loét dạ dày tá tràng trong năm 2021 với mục tiêu mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh và xác định một số yếu tố liên quan.

11133Chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật thay khớp gối toàn phần tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025

Mô tả chất lượng cuộc sống và phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật thay khớp gối toàn phần tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 108 người bệnh sau phẫu thuật thay khớp gối toàn phần. Bộ công cụ WHOQOL-BREF được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh 6 tháng sau phẫu thuật. Các yếu tố nhân khẩu học và lâm sàng được thu thập để đánh giá mối liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Kết quả: Điểm trung bình chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật thay khớp gối là 60,62 4,25, trong đó điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh cao nhất thuộc lĩnh vực quan hệ xã hội với 65,97 ± 2,31 điểm, sau đó đến lĩnh vực môi trường với 63,19 ± 6,06 điểm, lĩnh vực thể chất với 57,97 ± 8,38 điểm, thấp nhất là lĩnh vực tâm lý với 55,36 ± 5,35 điểm. Các yếu tố bao gồm tuổi, trình độ học vấn, bệnh lý kèm theo, tình trạng lo âu, trầm cảm, tình trạng đau, cứng khớp và khó khăn trong thực hiện các hoạt động hàng ngày có liên quan có ý nghĩa thống kê đến chất lượng cuộc sống của người bệnh sau sáu tháng phẫu thuật thay khớp gối. Kết luận: Phẫu thuật thay khớp gối có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh có tình trạng thoái hóa khớp. Thông tin về các yếu tố, đặc biệt là những yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê với chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật thay khớp gối có thể được xem xét để chỉ đạo điều trị theo các yếu tố của người bệnh. Hiểu biết tốt hơn về chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan có thể cung cấp thông tin có giá trị về hiệu quả của các biện pháp can thiệp và dẫn đến chăm sóc người bệnh tốt hơn.

11134Chất lượng cuộc sống của người bệnh xẹp đốt sống do loãng xương được điều trị bơm xi măng tạo hình thân đốt sống

Loãng xương là bệnh lý diễn biến thầm lặng, gây biến chứng gãy xương và đặc biệt là xẹp đốt sống gây đau, tàn phế… làm giảm chất lượng cuộc sống người bệnh. Mục tiêu nghiên cứu là mô tả chất lượng cuộc sống và sự thay đổi mức độ đau ở người bệnh xẹp đốt sống do loãng xương nguyên phát được bơm xi măng tạo hình thân đốt sống tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Thiết kế nghiên cứu mô tả được sử dụng trên 350 người bệnh thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu, trả lời bộ câu hỏi trước và sau can thiệp bằng EQ-5D-5L.

11135Chất lượng cuộc sống của nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới đang điều trị ARV tại Hà Nội

Nghiên cứu này nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống và xác định một số yếu tố liên quan tới chất lượng cuộc sống của nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) đang điều trị ARV tại một số phòng khám ngoại trú tại Hà Nội năm 2022. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 212 MSM đang điều trị ARV và sử dụng công cụ đo lường chất lượng cuộc sống WHOQOL-HIV BREF.

11136Chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Quận Thủ Đức

Đánh giá chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Tìm hiểu những yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của những đối tượng nghiên cứu.

11137Chất lượng cuộc sống của phụ nữ đã kết hôn: Nghiên cứu cắt ngang tại tỉnh Long An

Một phần ba dân số thế giới là phụ nữ. Chất lượng sống của phụ nữ quan trọng để đảm bảo gia đình hạnh phúc và khỏe mạnh. Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả chất lượng sống bằng WHOQOL-BREF và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ kết hôn tại tỉnh Long An, Việt Nam. Nghiên cứu cắt ngang thực hiện vào tháng 3/2017 đến tháng 8/2018 tại 14 huyện và 1 thành phố thuộc tỉnh Long An. Phụ nữ đã kết hôn đến khám phụ khoa tại các trạm y tế được chọn vào nghiên cứu.

11138Chất lượng cuộc sống của trẻ sau phẫu thuật bệnh Hirschsprung : tác động của Rối loạn đại tiện và chương trình Quản lý ruột

Bệnh Hirschsprung là một rối loạn bẩm sinh, đặc trưng bởi sự vắng mặt của các tế bào hạch thần kinh ở thành ruột, dẫn đến tắc nghẽn chức năng. Mặc dù có những tiến bộ trong phẫu thuật điều trị, nhiều trẻ vẫn gặp phải các biến chứng lâu dài, đặc biệt là rối loạn đại tiện như táo bón và són phân, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống (CLCS). Nghiên cứu nhằm đánh giá CLCS của trẻ sau phẫu thuật bệnh Hirschsprung bằng thang đo PedsQL 4.0 và xác định các yếu tố chính, bao gồm rối loạn đại tiện và chương trình quản lý ruột, ảnh hưởng đến kết quả CLCS. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 65 trẻ từ 2-16 tuổi đã phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Dữ liệu về CLCS được thu thập qua bộ câu hỏi PedsQL 4.0. Các yếu tố như phương pháp phẫu thuật, rối loạn đại tiện, và sự tham gia của gia đình trong chương trình quản lý ruột được phân tích bằng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả: Điểm trung bình CLCS chung là 67,5 ± 12,3, trong đó trẻ nhỏ (2–6 tuổi) có điểm cao hơn trẻ lớn. Rối loạn đại tiện, bao gồm táo bón mạn tính và són phân, có mối liên hệ chặt chẽ với điểm CLCS thấp hơn (p < 0,05). Chương trình quản lý ruột mang lại hiệu quả tích cực trong việc cải thiện thể chất và tinh thần cho trẻ, nhấn mạnh vai trò quan trọng của can thiệp này trong chăm sóc sau mổ. Kết luận: Rối loạn đại tiện là thách thức lớn đối với trẻ sau phẫu thuật bệnh Hirschsprung, làm ảnh hưởng tiêu cực đến CLCS của trẻ. Chương trình quản lý ruột là yếu tố cần thiết để giải quyết các vấn đề này, nhằm nâng cao phục hồi chức năng và cải thiện kết quả CLCS lâu dài. Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn để tối ưu hóa chiến lược chăm sóc và hỗ trợ cho trẻ cũng như gia đình.

11139Chất lượng cuộc sống ở người bệnh Covid-19 xuất viện tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Phân tích chất lượng cuộc sống ở người bệnh Covid-19 xuất viện tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Covid-19 gây ảnh hưởng cả sức khỏe thể chất và tâm thần của người bệnh, do đó hiểu biết về ảnh hưởng của Covid-19 đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL) của người bệnh là chìa khóa quan trọng nhằm xây dựng chính sách và các chương trình can thiệp cộng đồng. Sau phân tích đa biến và kiểm soát các yếu tố gây nhiễu tiềm tàng, nghiên cứu cho thấy nữ giới có HRQoL cao hơn nam giới,; tuổi càng cao điểm HRQoL giảm; mắc bệnh đái tháo đường và/hoặc bệnh lao phổi/ ngoài phổi cũ là yếu tố làm giảm HRQoL ở người bệnh Covid-19. Cần có các chương trình hỗ trợ và tư vấn tâm lý, sàng lọc rối loạn tâm thần ở người bệnh Covid-19 nhập viện.

11140Chất lượng cuộc sống trẻ hen phế quản và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Nhi trung ương

Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện nhằm mô tả chất lượng cuộc sống của những bệnh nhi 5 - 12 tuổi mắc hen tại Bệnh viện Nhi Trung Ương trong năm 2020 - 2021. Số liệu về được thu thập qua thang đo PedsQL™ 3.0 của Varni.J.W cho thấy trong số 4 nhóm điểm, nhóm triệu chứng bệnh có điểm cao nhất với 88,1 điểm. Hai nhóm lĩnh vực về cảm xúc và giao tiếp có mức điểm thấp nhất là 70,99 và 70,24 điểm. Điểm chất lượng cuộc sống trung bình của bệnh nhi trong nghiên cứu theo 28 tiêu chí là 81,45/100 điểm.