Kết quả tìm kiếm
Có 82651 kết quả được tìm thấy
11001Chăm sóc sức khỏe tinh thần trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tại thành phố Hồ Chí Minh - định hướng dự báo và khuyến nghị xác lập chiến lược

Bài viết đề cập định hướng dự báo và khuyến nghị xác lập chiến lược chăm sóc sức khỏe tinh thần cho ba đối tượng: người trưởng thành, trẻ em, nhóm yếu thế tại Tp. Hồ Chí Minh trong bối cảnh dịch Covid-19. Bằng việc tổng hợp tài liệu nghiên cứu về sang chấn và các vấn đề sức khỏe tinh thần khác mà người Việt có thể gặp trong bối cảnh dịch bệnh tiếp tục diễn tiến và sau khi dịch được kiểm soát, chúng tôi tiến hành dự báo về các vấn đề sức khỏe tinh thần của người dân theo diễn tiến dịch bệnh. Trên cơ sở đề xuất nghiên cứu thành lập trung tâm phản ứng chăm sóc sức khỏe tinh thần sau dịch cho người dân.

11002Chăm sóc và theo dõi bệnh nhân viên túi lệ mạn bằng phương pháp nối thông túi lệ - mũi qua đường rạch ngoài có đặt ống silicon

Nhận biết đặc điểm lâm sàng về bệnh viêm túi lệ mạn và cách chăm sóc, theo dõi bệnh nhân điều trị phẫu thuật nối thông túi lệ - mũi qua đường rạch ngoài có đặt ống silicon.

11003Champa : tổng mục lục các công trình nghiên cứu

Trình bày những vấn đề chung, lịch sử (bao gồm khảo cổ học), kinh tế, địa lý, ngữ văn - bi ký, tôn giáo - phong tục tập quán, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật diễn xướng, nhân chủng học và những vấn đề khác của văn hóa Champa.

11004Champa ancient Towers : reality & legend

Presenting 4 parts such as 1. present condition, 2. the Champaa towers - myths and realities, 3. functions and models of Champa towers, 4. styles.

11005Chán ăn tâm thần gây nhịp chậm xoang: Báo cáo ca bệnh

Chán ăn tâm thần là một rối loạn ăn uống, thường khởi phát ở tuổi vị thành niên. Rối loạn này có tỉ lệ gây tử vong cao và có thể để lại các hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quá trình phát triển thể chất và tinh thần của thanh thiếu niên. Với lệ mắc từ 0,5 - 1%, ước tính ở Việt Nam có khoảng 500 nghìn - 1 triệu người có nguy cơ mắc bệnh.

11006Chẩn đoán bằng mạch chẩn và thiệt chẩn

Đại cương về mạch chẩn, thiệt chẩn; ý nghĩa cá hình thể và trạng thái của từng loại mạch; mạch bệnh và thời gian xem mạch; quy nạp các loại mạch theo nhóm; mạch bệnh tạng phủ, mạch bệnh nghi kỵ; mạch bệnh sản phụ khoa; mạch và các chứng bệnh ở trẻ em; một số điểm về giải phẫu học, mô học và sinh lý học; khám lưỡi, những biến đổi của lưỡi phản ánh diễn biến bệnh của các tạng (cơ quan trong cơ thể).

11007Chẩn đoán căn nguyên nốt đơn độc ở phổi tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu thực hiện nhằm mô tả các đặc điểm về lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên nốt đơn độc phổi, từ đó giúp các bác sĩ lâm sàng có thêm kinh nghiệm trong việc đưa ra quyết định quản lý theo dõi các tổn thương này nhằm chẩn đoán và điều trị kịp thời các nốt phổi gợi ý ác tính và tránh những can thiệp không cần thiết với các nốt phổi đơn độc có tính chất lành tính. Nốt đơn độc ở phổi được định nghĩa là tổn thương đơn độc trên X quang phổi với kích thước <=3cm, xung quanh là nhu mô phổi lành không gây xẹp phổi, không kèm hạch trung thất hay tràn dịch màng phổi. Đây là dạng tổn thương phổi khá thường gặp, có thể do nhiều nguyên nhân gây nên. Các nguyên nhân lành tính bao gồm: u lao, harmatoma, hạch lympho tại phổi, sarcoidosis, u nấm. Các căn nguyên ác tính gồm: ung thư phổi, ung thư di căn phổi, u lympho…

11008Chẩn đoán độ cứng cầu dầm và lực căng dây cáp bằng kỹ thuật đo và phân tích dao động

Bài viết giới thiệu kỹ thuật chẩn đoán độ cứng cầu dầm và lực căng trong dây cáp cầu dây bằng kỹ thuật đo và phân tích dao động. Trên cơ sở sử dụng các thiết bị hiện có tại phòng thí nghiệm công trình trường đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng, các tác giả đã phát triển chương trình MATLAB dùng để thu thập tín hiệu đo dao động theo thời gian thực và phân tích các tín hiệu đo dao động áp dụng cho việc chẩn đoán độ cứng cầu và lực căng trong dây cáp các loại cầu dây.

11009Chẩn đoán độ cứng kết cấu hệ thanh bằng phương pháp cập nhật mô hình phần tử hữu hạn kết hợp thuật giải tiến hóa vi phân cải tiến

Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu về việc chẩn đoán độ cứng kết cấu hệ thanh sử dụng phương pháp cậpnhật mô hình phần tử hữu hạn (PTHH) và thuật toán tiến hóa vi phân cải tiến (ANDE). Độ cứng của các cấukiện trong kết cấu hư hỏng được xác định thông qua tối ưu hóa sai khác giữa số liệu dao động thực nghiệm (môphỏng trên mô hình giả định hư hại cho trước) và ứng xử của mô hình PTHH lý thuyết với các tham số độ cứngchưa biết. Kết quả kiểm chứng trên hai ví dụ số, một kết cấu dàn và một kết cấu khung phẳng, cho thấy phươngpháp đề xuất là một phương pháp khả thi và hiệu quả cho việc chẩn đoán độ cứng kết cấu hệ thanh.

11010Chẩn đoán đột biến EGFR trong ung thư phổi không tế bào nhỏ với các mẫu bệnh phẩm dịch khoang cơ thể không có tế bào ác tính

Dựa vào tính chất các mẫu dịch khoang cơ thể có hiện diện các mảnh DNA lơ lửng giúp thực hiện chẩn đoán đột biến EGFR. Từ nguyên lý này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu sau: (a) Khảo sát tỉ lệ phát hiện đột biến EGFR trong các mẫu bệnh phẩm mô học đúc khối paraffin. (b) Khảo sát tỉ lệ phát hiện đột biến EGFR trong các mẫu dịch khoang cơ thể. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca lâm sàng, tiến cứu, thống kê mô tả cắt ngang. Các trường hợp UTPKTBN được chẩn đoán đột biến EGFR bằng các Test EGFR Version 1 và EGFR Version 2. Kết quả: Có 117 ca bệnh trong nghiên cứu: Kết quả chẩn đoán đột biến gen EGFR trên mẫu mô học đúc khối paraffin: (+) 49 ca # 41,88%, đa số vẫn là hai loại đột biến Exon 19 Deletion và Exon 21 L858R (53% và 23%) nhạy với các thuốc ức chế tyrosin kinase nhóm I và II. Kết quả chẩn đoán đột biến EGFR trên các mẫu dịch khoang cơ thể với đa số mẫu dịch khoang cơ thể thực hiện chẩn đoán đột biến EGFR là dịch màng phổi (91 ca tương đương 77,77%). Tỉ lệ phát hiện đột biến trong mẫu dịch màng phổi và dịch não tủy cao nhất (29,67% và 83,33%). So sánh tỉ lệ phát hiện đột biến EGFR trên mẫu dịch khoang cơ thể (35 /117 ca tương đương 29,91%) với tỉ lệ phát hiện trên mẫu mô học thấp hơn có ý nghĩa thống kê (29,91% so với 41,88%, giá trị p = 0,0125). Kết luận: Khảo sát chẩn đoán đột biến EGFR trong dịch các khoang cơ thể cho thấy đây là một bước ứng dụng mới giúp chẩn đoán đột biến EGFR ở các trường hợp khó lấy được mẫu bệnh phẩm mô học, đặc biệt trong các ca bệnh UTPKTBN tiến triển di căn. Cần nâng cao kỹ thuật thực hiện chẩn đoán đột biến EGFR trong mẫu dịch khoang cơ thể.