CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ Công nghệ số tiếng Anh / Trần Quốc Việt // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 107-118 .- 420

Trên cơ sở khảo sát 2.212 thuật ngữ công nghệ số tiếng Anh bằng phương pháp thống kê, mô tả và phân tích trong ngôn ngữ học, bài viết đã xác lập các đặc điểm về hình thái và từ loại của hệ thống này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các thuật ngữ có cấu tạo đa dạng, từ 01 đến 06 thành tố, chủ yếu dưới dạng kết cấu ngữ. Trong đó, thuật ngữ có cấu tạo là danh từ và danh ngữ đóng vai trò chủ đạo, chiếm 90,91% tổng số ngữ liệu được khảo sát.

2 Đối chiếu nguồn lực tương tác ngoại ngôn trong diễn ngôn án văn Việt Nam và Vương Quốc Anh / Phạm Thị Thùy Dung, Nguyễn Văn Chính, Phan Tuấn Ly // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 87-95 .- 400

Bài viết nghiên cứu đối chiếu các nguồn lực tương tác ngoại ngôn trong án văn Việt Nam và Vương quốc Anh. Ngữ liệu gồm 10 bản án phúc thẩm (khoảng 120 trang A4) của Tòa án Việt Nam và Vương quốc Anh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp đối chiếu, đồng thời áp dụng thủ pháp thống kê để kiểm đếm tỉ lệ các chỉ tố siêu diễn ngôn. Kết quả cho thấy án văn tiếng Việt chủ yếu làm nổi bật quan điểm của Tòa án bằng chỉ tố nhấn mạnh, sử dụng chỉ tố thái độ biểu đạt mức độ đồng thuận hoặc bác bỏ. Ngược lại, án văn tiếng Anh thể hiện quan điểm của Tòa án đa dạng hơn, không chỉ qua chỉ tố nhấn mạnh mà còn thông qua chỉ tố rào đón và chỉ tố thái độ.

3 Lược đồ văn hóa che chở trong lời trừ ma dân gian Thái : một tiếp cận ngôn ngữ học văn hóa / Phạm Thị Hương Quỳnh // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 128-119 .- 400

Nghiên cứu này vận dụng khung lí thuyết Ngôn ngữ học văn hóa để khảo sát lược đồ văn hóa che chở trong nhóm văn bản trừ ma của người Thái được ghi chép trong Lời thần chú, bùachài trong dân gian, sách cổ Thái (Hoàng Trần Nghịch & Cà Chung, 2016). Trên cơ sở phương pháp miêu tả kết hợp với thống kê định lượng, nghiên cứu tiến hành nhận diện và phân tích các biểu thức ngôn ngữ liên quan đến hoạt động trừ ma trong lời rắc vừng, vãi gạo, chăng chỉ và giắt lá. Qua đó, bài viết góp phần làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và nhận thức, đồng thời cung cấp thêm những cứ liệu về thế giới quan và tri thức văn hóa của người Thái được lưu giữ trong diễn ngôn nghi lễ dân gian.

4 Nét riêng trong tư duy thơ trung đại và thơ mới thể hiện qua ẩn dụ ý niệm “tình yêu là sự gần gũi” / Trần Văn Nam // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 137-144 .- 400

Bài nghiên cứu tìm hiểu cách thức ý niệm hoá tình yêu của các nhà thơ trung đại và các nhà thơ mới được thể hiện qua ẩn dụ ý niệm tình yêu là sự gần gũi. Từ đó, bài viết cũng chỉ ra nét riêng trong tư duy thơ trung đại và thơ mới được thể hiện qua ẩn dụ ý niệm này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thơ trung đại thiên về lối miêu tả ước lệ, tượng trưng theo một phong cách chung còn thơ mới nhấn mạnh cảm xúc cá nhân trực tiếp và cá nhân hoá phong cách.

5 Từ điển đơn ngữ trực tuyến hiện nay / Nguyễn Thị Huyền // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 3-13 .- 400

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, từ điển trực tuyến xuất hiện và đã khẳng định được tính tiện lợi so với từ điển giấy. Bài viết giới thiệu một số từ điển đơn ngữ trực tuyến tiếng Anh và tiếng Việt để thấy rõ đặc điểm và có cái nhìn toàn diện về các công trình từ điển trực tuyến tiếng Anh và tiếng Việt hiện nay.

6 Từ phiếm định trong tục ngữ tiếng Việt / Trần Thị Thắm // .- 2023 .- Số 11a(360) .- Tr. 23-28 .- 400

Bài viết này phân tích đặc điểm (ngữ pháp ngữ nghĩa, ngữ dụng) của các từ phiếm định trên cứ liệu tục ngữ tiếng Việt. Việc minh chứng đặc điểm của chúng qua tục ngữ góp phần khẳng định vai trò của các yếu tố này trong hoạt động hành chức, giúp phân biệt rõ hơn đại từ phiếm định và đại từ nghi vấn khi chúng có cùng một hình thức ngữ âm. Quá trình phân tích cũng cho thấy biểu hiện phong phú và sự kết hợp linh hoạt của những từ phiếm định với những mục đích nói năng trong từng ngữ cảnh cụ thể của người Việt.

7 Từ xưng hô trong sự tình vật chất theo lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday (Khảo sát trong một số tác phẩm văn học) / Bùi Thị Thuý Hằng, Trương Thị Mỹ Hậu // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 38-48 .- 400

Dựa trên lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, bài viết nghiên cứu một số tác phẩm văn học (sau 1975) để tìm hiểu ý nghĩa của từ xưng hô trong việc thể hiện mối quan hệ vật chất giữa các nhân vật. Kết quả nghiên cứu cho thấy từ xưng hô không chỉ phản ánh cấu trúc xã hội mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thể hiện mối quan hệ thông qua các hành động vật lí giữa các nhân vật.

8 Đối chiếu nhóm từ chỉ tính cách trong tiếng Việt và tiếng Anh / Phạm Thị Thuý Hồng // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 55-59 .- 420

Nhóm từ chỉ tính cách trong tiếng Việt và tiếng Anh khá phong phú, đa dạng. Về cấu trúc và cách thức cấu tạo từ mới cũng có nhiều sự khác nhau giữa hai ngôn ngữ. Bài viết này tập trung vào nghiên cứu đối chiếu cấu tạo và ngữ nghĩa của chúng trong hai ngôn ngữ trên cơ sở khảo sát số lượng, phân tích cách thức cấu tạo từ và phương thức cấu tạo nghĩa của chúng. Kết quả khảo sát cho thấy số lượng từ ngữ chỉ tính cách trong tiếng Việt nhiều hơn tiếng Anh. Nhóm từ chỉ tính cách tích cực trong tiếng Việt luôn nhiều hơn nhóm từ chỉ tính cách tiêu cực trong nhiều phạm vi và nhiều hơn số lượng từ trong tiếng Anh. Về cách thức cấu tạo, tiếng Anh thường dùng tiền tố un-, in-.. tiếng Việt sử dụng nhiều các yếu tố cấu tạo từ như: vô, bất...và dùng yếu tố “tính” + một yếu tố chỉ tính cách riêng. Những sự giống và khác nhau này giúp cho người nước ngoài học tiếng Việt và người Việt học tiếng Anh nắm được nhóm từ này một cách hệ thống, dễ dàng.

9 So sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô tiếng Anh theo lí thuyết đánh giá / Phạm Thị Phượng, Nguyễn Thị Hằng // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 69-76 .- 420

Nghiên cứu này phân tích và so sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô, sử dụng khung lí thuyết Đánh giá do Martin và White (2005) đề xuất. Kết quả phân tích phần kết luận của các bài báo kinh tế viết bằng tiếng Anh trên các tạp chí uy tín cho thấy, các tác giả sử dụng Giọng điệu dị thanh cao, đặc biệt là Trao đổi và Phát biểu để tạo sự gắn kết với người đọc và thể hiện sự tự tin trong lập luận. So sánh giữa phần kết luận trong bài báo kinh tế vĩ mô và bài báo kinh tế vi mô cho thấy sự khác biệt thú vị về tần suất sử dụng một số Giọng điệu. Sự khác biệt này có thể liên quan đến bản chất của từng lĩnh vực và đối tượng độc giả mục tiêu. Nghiên cứu này đóng góp vào sự hiểu biết về cách thức các tác giả sử dụng Giọng điệu trong giao tiếp khoa học, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các yếu tố ngữ cảnh khi phân tích Giọng điệu.

10 Tri nhận và biểu đạt thời gian trong tiếng Việt và tiếng Trung Quốc : so sánh “trước”, “sau” và “前”, “后” / Lê Thị Cẩm Vân // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 83-92 .- 495.1

So sánh ngữ nghĩa thời gian, phối cảnh và ẩn dụ ý niệm thời gian của hai cặp từ đối lập chỉ hướng không gian được chuyển di để chỉ thời gian trong tiếng Việt và tiếng Trung Quốc là trước, sau và 前, 后. Kết quả phân tích cho thấy sự khác nhau giữa trước, sau và 前, 后 phản ánh sự khác biệt về ngôn ngữ và tư duy giữa hai cộng đồng bản ngữ trong khi sự tương đồng giữa chúng củng cố thêm các phổ niệm trong ngôn ngữ tự nhiên.