CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Phân tích áp lực hô hấp trên các sai hình xương sọ mặt khác nhau / Vũ Thị Thu Trang, Vũ Đình Việt Anh, Lê Đình Tùng, Đỗ Hoàng Việt, Trần Thị Bích Hòa, Nguyễn Thanh Huyền // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 1-8 .- 617.6

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mối liên hệ giữa hình thái đường thở và hình thái sọ mặt, nhấn mạnh nhiều hơn vào chiều trước–sau so với chiều dọc. Tuy nhiên, mối liên quan giữa các dạng sai hình xương và chức năng hô hấp vẫn chưa được làm rõ. Mặc dù các nghiên cứu ba chiều ghi nhận sự gia tăng kích thước đường thở sau điều trị chỉnh nha, những thay đổi hình thái không nhất thiết phản ánh cải thiện chức năng. Chức năng đường thở phụ thuộc vào sức cản luồng khí và hoạt động cơ hô hấp, trong đó áp lực hô hấp tối đa (RMS) là chỉ số quan trọng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá RMS ở bệnh nhân có các dạng sai hình xương khác nhau và khảo sát mối liên quan với kích thước đường thở trên CBCT. RMS trong nghiên cứu này dùng để chỉ mức độ thay đổi áp lực dòng khí thu được từ mô phỏng CFD của đường thở trên, không phải sức mạnh cơ hô hấp (respiratory muscle strength) trong sinh lý hô hấp.Kết quả cho thấy RMS cao nhất ở nhóm hạng II (5,8 ± 5,5), tiếp theo là hạng I (4,6 ± 4,3) và thấp nhất ở hạng III (3,9 ± 3,0), với sự khác biệt có ý nghĩa giữa hạng II và hạng III. Những phát hiện này cho thấy sự khác biệt về chức năng hô hấp giữa các dạng sai hình xương, gợi ý rằng kết hợp đánh giá RMS và hình thái đường thở có thể hỗ trợ chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị chỉnh nha hiệu quả hơn.

2 Kích thước lỗ cằm và lỗ cằm phụ trên phim CBCT ở người trưởng thành từ 18 - 30 tuổi tại Hà Nội / Trương Đình Khởi, Lê Linh Chi // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 9-18 .- 617.6

Mục tiêu nghiên cứu là mô tả kích thước, tỷ lệ xuất hiện, hướng phân bố của lỗ cằm, lỗ cằm phụ và đánh giá sự khác biệt theo giới tính, vị trí hai bên cung hàm trên phim CBCT ở người trưởng thành 18 - 30 tuổi tại Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 127 phim CBCT (58 nam, 69 nữ), khảo sát 254 lỗ cằm và 25 lỗ cằm phụ. Kết quả cho thấy theo giới tính, hầu hết các chỉ số (MCL, MFVD, MFW, DFU, DFL) ở nam lớn hơn so với nữ có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) ngoại trừ góc ống cằm (p > 0,05). Tỷ lệ lỗ cằm phụ là 9,84%; các kích thước không khác biệt giữa hai bên nhưng ở nam lớn hơn ở nữ (p < 0,05). Hướng mở lỗ cằm phụ chủ yếu là hướng gần (76%). Lỗ cằm ghi nhận xu hướng đối xứng hai bên trong mẫu nghiên cứu. Lỗ cằm phụ có đặc điểm hình thái riêng biệt, phân bố có xu hướng theo giới và theo cung hàm tương đồng với lỗ cằm. Việc đánh giá CBCT trước can thiệp có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị nhằm hạn chế biến chứng thần kinh trong thực hành nha khoa.

3 Hình thái, kích thước lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên xương hàm dưới trên phim CBCT ở người trung niên 45 - 59 tuổi / Trương Đình Khởi, Lê Linh Chi // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 19-26. .- 617

Mục tiêu nghiên cứu là mô tả kích thước, tỉ lệ xuất hiện, phân bố theo giới tính và vị trí, tỉ lệ có kích thước > 1 mm của lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên trên phim CBCT ở người trung niên 45 - 59 tuổi. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 158 phim CBCT (87 nam, 71 nữ), khảo sát 247 lỗ lưỡi giữa và 274 lỗ lưỡi bên. Kết quả cho thấy rằng 100% đối tượng có ít nhất một lỗ lưỡi giữa; lỗ lưỡi bên xuất hiện với tỷ lệ 71,52%. Lỗ lưỡi giữa chủ yếu nằm trên gai cằm (72,15%) trong khi lỗ lưỡi bên tập trung ở vùng răng hàm nhỏ và răng hàm lớn. Các kích thước của cả lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên ở nam lớn hơn nữ có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Phần lớn các lỗ có kích thước ≤ 1 mm, tuy nhiên vẫn ghi nhận một tỷ lệ nhất định > 1 mm, đặc biệt ở lỗ lưỡi giữa. Lỗ lưỡi là cấu trúc giải phẫu phổ biến với sự biến thiên đáng kể về số lượng, vị trí và kích thước, đồng thời có sự khác biệt rõ rệt theo giới tính. CBCT nên được cân nhắc trong các trường hợp phẫu thuật có nguy cơ cao hoặc nghi ngờ biến thể giải phẫu để hỗ trợ việc lập kế hoạch điều trị chính xác, phù hợp hơn, giảm nguy cơ biến chứng.

4 Phân tích tin sinh học về biểu hiện, tiên lượng và ý nghĩa sinh học của FOS trong ung thư vú / Nguyễn Thanh Thúy, Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Hoàng Anh Duy, Quang Trọng Minh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 27-43 .- 610

Nghiên cứu này nhằm phân tích đặc điểm biểu hiện, giá trị tiên lượng và ý nghĩa sinh học tiềm năng của FOS trong ung thư vú bằng cách khai thác các cơ sở dữ liệu công khai và các công cụ tin sinh học, bao gồm TCGA-BRCA, Kaplan-Meier Plotter, bc-GenExMiner, GeneMANIA, STRING, DAVID và miRmap. Kết quả cho thấy FOS biểu hiện giảm rõ rệt ở mức mRNA trong mô ung thư vú nguyên phát so với mô vú bình thường, đồng thời mức biểu hiện thay đổi theo giai đoạn bệnh và phân nhóm ung thư vú. Phân tích sống còn ghi nhận rằng biểu hiện FOS cao hơn liên quan đến kết cục sống còn thuận lợi hơn, bao gồm sống còn không tái phát và sống còn không di căn xa. Phân tích mạng lưới cho thấy FOS/c-Fos liên quan chặt chẽ với các thành viên của họ JUN/FOS và phức hợp AP-1. Phân tích làm giàu chức năng gợi ý rằng các gen/protein liên quan đến FOS/FOS được làm giàu trong các quá trình điều hòa phiên mã, tín hiệu estrogen, MAPK và đáp ứng stress. Ngoài ra, hsa-miR-221-3p và hsa-miR-222-3p được dự đoán có khả năng điều hòa hậu phiên mã FOS. Nhìn chung, FOS là một dấu ấn sinh học tiềm năng trong ung thư vú; tuy nhiên, các kết quả hiện tại chủ yếu dựa trên dữ liệu mRNA và phân tích tin sinh học hồi cứu, do đó cần được xác nhận thêm bằng dữ liệu protein, mô hình lâm sàng đa biến và các nghiên cứu thực nghiệm.

5 Khảo sát phổ biến thể gen gây bệnh ở nhóm người bệnh chậm phát triển tâm thần nặng bằng giải trình tự hệ gen mã hóa / Hoàng Thu Lan, Hồ Cẩm Tú, Đào Thị Trang, Nguyễn Phương Mai, Nguyễn Thị Khánh Vân, Lê Thị Hạnh, Lương Thị Lan Anh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 44-55 .- 610

Khảo sát phổ biến thể gen và mô tả đặc điểm lâm sàng ở nhóm người bệnh có CPTTT nặng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 18 người bệnh CPTTT bằng giải trình tự hệ gen mã hóa (Exome Sequencing - ES/WES) tại trung tâm di truyền lâm sàng - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả, phát hiện được 3 trường hợp mang biến thể gen MECP2 (16,7%), 15 trường hợp còn lại phát hiện các biến thể rải rác ở các gen khác nhau chiếm 83,3%. Nhóm MECP2 có tỷ lệ động kinh cao hơn nhóm mang biến thể các gen khác (66,7% so với 26,7), tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê do số lượng mẫu còn nhỏ (p = 0,245). Về tuổi khởi phát, thoái triển thần kinh và biểu hiện tự kỷ sự khác biệt cũng chưa có ý nghĩa thống kê. Như vậy, ngoài biến thể gen MECP2 được phát hiện với tỷ lệ cao nhất, cũng phát hiện đc 15 biến thể nằm rải rác ở các gen khác nhau, cho thấy xét nghiệm ES là phương pháp có hiệu quả cao trong chẩn đoán nguyên nhân di truyền cho nhóm người bệnh CPTTT nặng.

6 Mối liên quan thăm dò giữa biến thể gen thụ thể vitamin D và nồng độ 25-hydroxyvitamin D ở trẻ mắc sốt xuất huyết Dengue / Phan Việt Hưng, Nguyễn Thị Diệu Thúy, Nguyễn Minh Phương // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 56-65 .- 610

Nghiên cứu nhằm khảo sát, với tính chất thăm dò, mối liên quan giữa các biến thể gen thụ thể vitamin D (VDR) và nồng độ 25-hydroxyvitamin D [25(OH)D] huyết thanh ở trẻ em mắc sốt xuất huyết Dengue (SXHD) tại Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu quan sát tiến cứu được thực hiện trên 267 bệnh nhi dưới 16 tuổi điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ và Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau từ tháng 02/2024 đến tháng 12/2025. Trong 267 bệnh nhi, tuổi trung vị là 10,9 năm; nữ chiếm 43,8%; SXHD nặng và sốc lần lượt là 34,5% và 34,1%. Nồng độ 25(OH)D được định lượng trong pha cấp; bốn biến thể gen VDR gồm rs2228570 (FokI T>C), rs7975232 (ApaI G>T), rs731236 (TaqI T>C) và rs1544410 (BsmI G>A) được xác định kiểu gen. Hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa biến thể gen VDR và 25(OH)D. Sau hiệu chỉnh, rs7975232 (ApaI G>T) theo mô hình mang alen T ghi nhận tín hiệu liên quan thăm dò với 25(OH)D thấp hơn (β = -3,54; KTC 95%: -6,53 đến -0,54; p = 0,021). Haplotype G-T-T theo thứ tự BsmI–ApaI–TaqI cũng ghi nhận tín hiệu liên quan thăm dò với 25(OH)D thấp hơn (β = -3,22; KTC 95%: -5,92 đến -0,52; p = 0,020). Các phát hiện này là tín hiệu thăm dò, chưa chứng minh quan hệ nhân quả và cần được xác nhận trong các nghiên cứu độc lập.

7 Bất thường di truyền tế bào phát hiện bằng kỹ thuật FISH và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đa u tuỷ xương / Đặng Thị Ngọc Ánh, Trương Văn Lợi, Nguyễn Ngọc Hòa // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 66-77 .- 610

Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 66 bệnh nhân chẩn đoán đa u tủy xương tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An từ tháng 01/2021 đến tháng 08/2025, nhằm xác định tỷ lệ bất thường di truyền tế bào bằng kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) và đánh giá mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đa u tuỷ xương. Kết quả: bất thường được phát hiện ở 18 bệnh nhân (27,3%). Trong đó, dups(1q) chiếm tỷ lệ cao nhất (16,7%), tiếp theo là del(13q) (9,1%), del(17p) (3,0%); không ghi nhận đột biến chuyển đoạn liên quan vùng gen IGH; 01 trường hợp đồng thời mang del(13q) và dups(1q). Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định ba yếu tố có liên quan với sự hiện diện bất thường di truyền bằng FISH: nồng độ Canxi huyết thanh cao (OR = 1,33; p = 0,006), giai đoạn ISS cao (OR = 11,82; p = 0,009) và nồng độ ALP huyết thanh tăng (OR = 1,18; p = 0,025).

8 Một số đặc điểm kích thước và các yếu tố liên quan của động mạch nền trên hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Nguyễn Thị Thu Huyền, Lê Mạnh Thường, Nguyễn Đức Nghĩa, Ngô Xuân Khoa, Lê Thanh Dũng, Trần Quang Lộc, Ngô Thành Ý // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 78-85 .- 610

Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát đặc điểm về kích thước và các yếu tố liên quan của động mạch nền trên 173 phim chụp cắt lớp vi tính sọ não tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Kết quả cho thấy chiều dài trung bình của động mạch nền là 24,19 ± 4,02 mm; đường kính trung bình tại các vị trí nguyên ủy, đoạn giữa, và tận cùng lần lượt là 3,5 ± 0,55 mm, 3,23 ± 0,49 mm, và 3,66 ± 0,64 mm và đường kính trung bình chung là 3,46 ± 0,51 mm. Các kích thước động mạch nền của nam giới lớn hơn đáng kể so với nữ giới (p < 0,05). Không ghi nhận mối liên quan giữa tuổi và chiều dài động mạch nền. Ở nữ giới, đường kính nguyên ủy ở nhóm tuổi già cao hơn đáng kể nhóm tuổi trung niên (p = 0,040). Ở nam giới, đường kính đoạn giữa ở nhóm tuổi già cao hơn nhóm tuổi trung niên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,017). Kết quả cho thấy kích thước động mạch nền có sự khác biệt theo giới tính, trong khi sự khác biệt theo nhóm tuổi chỉ được ghi nhận ở một số vị trí đường kính động mạch khi phân tích riêng theo từng giới.

9 Một số phương tiện biểu đạt lịch sự của hành vi ngôn ngữ phàn nàn trong tiếng Việt / Đào Thị Thanh Huyền // .- 2025 .- Số 8(371) .- Tr. 48-55 .- 400

Bài viết này tìm hiểu và phân tích từ ngữ xưng hô, tình thái từ, thán từ như một trong những phương tiện biểu đạt cần thiết để bảo đảm tính lịch sự trong quá trình giao tiếp với đối phương.

10 Ẩn dụ ý niệm về tài chính trong tiếng Việt nhìn từ miền nguồn lửa / Nguyễn Lưu Diệp Ánh // .- 2025 .- Số 8(371) .- Tr. 56-63 .- 400

Phân tích, nghiên cứu xác định ba mô hình ánh xạ nổi bật: (1) thiệt hại tài chính được tri nhận như thiệt hại do lửa gây ra, (2) sự phát triển tài chính được nhìn nhận như ngọn lửa lan nhanh, và (3) hoạt động tài chính được ví như hành động tương tác với lửa. Thông qua việc phân tích các mô hình ánh xạ này, bài viết không chỉ làm rõ cách thức người Việt tri nhận và diễn đạt các hiện tượng tài chính, mà còn mở ra hướng tiếp cận đối chiếu liên ngôn ngữ, từ đó làm rõ sự tương đồng và khác biệt trong cách con người ở các nền văn hóa khác nhau hình dung và lí giải các hiện tượng kinh tế thông qua ẩn dụ ý niệm.