CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Về cách tiếp nhận quan hệ ngữ nghĩa ở bậc từ / Phạm Văn Lam // .- 2025 .- Số 1(363) .- Tr. 15-26 .- 400

Ngôn ngữ vốn là một hệ thống. Từ vựng - ngữ nghĩa cũng là một hệ thống. Hệ thống được đặc trưng bởi hay được cấu thành nên từ các phần tử và quan hệ. Nội dung của bài viết tập trung vào: (1) cách tiếp cận ngoài ngôn ngữ học, (2) cách tiếp cận liên ngành với ngôn ngữ học, và (3) cách tiếp cận ngôn ngữ học.

2 Bàn về các phương pháp nhận diện ẩn dụ ý niệm / Đỗ Thị An // .- 2025 .- Số 1(363) .- Tr. 34-42 .- 400

Cung cấp một cái nhìn tổng quan, giúp các nhà nghiên cứu lựa chọn phương pháp phù hợp nhất để phát hiện, phân tích ẩn dụ ý niệm một cách hiệu quả. Đồng thời, bài báo gợi mở hướng áp dụng các phương pháp này vào nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm.

3 Đối chiếu ẩn dụ ý niệm chỉ nỗi buồn trong tiếng Anh và tiếng Việt / Đỗ Diệp Linh // .- 2025 .- Số 1(363) .- Tr. 53-60 .- 400

Tìm hiểu, phân tích và khám phá những điểm tương đồng và khác biệt trong ẩn dụ ý niệm chỉ nỗi buồn được dùng giữa hai ngôn ngữ trên cứ liệu 285 mẫu bao gồm cả tiếng Anh và tiếng Việt được rút ra từ các bài viết trên một số website có uy tín. Kết quả cho thấy cả cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt đều sử dụng những miền nguồn tương tự nhau để hình thành các ẩn dụ biểu đạt nỗi buồn. Thêm vào đó, yếu tố văn hóa và những trải nghiệm trong đời sống của con người cũng góp phần tạo nên sự khác biệt trong việc sử dụng các ẩn dụ này.

4 Hoạt động “dạy học phản ánh” của giảng viên trong lớp học tiếng Anh : khảo sát trường hợp / Đặng Thị Khánh Hà, Nguyễn Thị Minh Hà // .- 2025 .- Số 1(363) .- Tr. 91-102 .- 420

Nghiên cứu về “dạy học phản ánh” (refective teaching) trong vòng 10 tuần học của học phần tiếng Anh chuyên ngành 1 của 3 lớp học gồm 130 sinh viên năm thứ 3. Trong đó, chúng tôi có sử dụng hai công cụ phản hồi bao gồm nhật ký giáo viên (teacher diary) và phản hồi của sinh viên (student’s feedback) để làm rõ cho nội dung nghiên cứu.

5 Từ “盡”, “尽” trong tiếng Hán và từ Hán Việt “tận” trong tiếng Việt / 刘艳芬 (Lưu Diễm Phân), 罗文青 (La Văn Thanh) // .- 2025 .- Số 1(363) .- Tr. 115-119 .- 495.1

Từ Hán Việt đóng vai trò cực kì quan trọng trong kho từ vựng tiếng Việt. Vì thế, việc nghiên cứu nguồn gốc và diễn biến của từ Hán Việt là hết sức ý nghĩa, nhất là khi so sánh, đối chiếu giữa từ Hán Việt với chúng trong tiếng Hán. Bài này tìm hiểu từ “盡”, “尽” trong tiếng Hán và từ Hán Việt “tận” trong tiếng Việt; chỉ ra sự giống và khác nhau cũng như việc dịch từ này từ tiếng Hán sang tiếng Việt và từ tiếng Việt sang tiếng Hán ở các ngữ cảnh khác nhau.

6 Một vài nhận xét về tư duy của người Việt về tư thế (qua nhóm từ đứng, ngồi, nằm, quỳ) / Triệu Thu Duyên // .- 2025 .- Số 1(363) .- Tr. 127-135 .- 400

Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bài viết đưa ra một vài nhận xét về tư duy của người Việt về tư thế (qua nhóm từ đứng, ngồi, nằm, quỳ), mối liên hệ giữa tư thế với không gian, với đặc trưng văn hóa dân tộc. Kết quả nghiên cứu của bài viết nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát và toàn diện hơn về nhóm từ chỉ tư thế nói chung và mối tương quan với văn hóa và thói quen tư duy ngôn ngữ của cộng đồng người Việt.

7 Ngôn ngữ kể trong tiểu thuyết “for whom the bell tolls” (chuông nguyện hồn ai) / Hán Thị Bích Ngọc // .- 2025 .- Số 1(363) .- Tr. 143-147 .- 400

Bài viết phân tích đặc điểm ngôn ngữ kể trong tiểu thuyết For Whom the Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai) của Ernest Hemingway, tập trung vào giọng kể của người trần thuật hàm ẩn bên ngoài câu chuyện. Sử dụng ngôi kể thứ ba, ngôn ngữ kể trong tác phẩm mang giọng điệu khách quan và trung lập, cho phép người đọc cảm nhận câu chuyện một cách tự nhiên, không bị chi phối bởi quan điểm chủ quan của người kể.

8 Áp dụng công thức hóa nhằm nhận diện một số kiểu lỗi ngữ pháp tiếng Việt Của người nước ngoài / Hoàng Anh Thi, Trương Phương Thúy // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 12-23 .- 400

Bài viết theo quan điểm xử lí lỗi triệt để, phát hiện hệ thống ngữ pháp của chi tiết lỗi, mô tả cấu trúc ngữ pháp để đưa ra công thức cụ thể, từ đó nhận diện chính xác chi tiết lỗi trong mối quan hệ với các yếu tố khác, nhằm giúp người học hiểu bản chất lỗi, có thể tránh mắc lại trong tương lai.

9 Hiện tượng đồng nghĩa trong thuật ngữ ngành ô tô tiếng Anh / Phạm Anh Tiến // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 33-42 .- 420

Bài báo này làm rõ khái niệm đồng nghĩa trong thuật ngữ và nghiên cứu các dạng thức cũng như nguyên nhân xuất hiện các thuật ngữ đồng nghĩa trong lĩnh vực ô tô. Thông qua việc miêu tả, phân tích thành tố trực tiếp, trong số 2.197 khái niệm được rút ra từ một cuốn từ điển thuật ngữ ngành ô tô, có 285 khái niệm có đồng nghĩa và 314 cặp đồng nghĩa xuất hiện với 9 dạng thức khác nhau: đồng nghĩa do cách viết chính tả, đồng nghĩa do thay đổi hình thái, đồng nghĩa do viết tắt, đồng nghĩa do sử dụng từ ngữ phương ngữ, đồng nghĩa do sử dụng ngữ vực khác nhau, đồng nghĩa do sử dụng yếu tố đồng nghĩa, đồng nghĩa do yếu tố lịch đại, đồng nghĩa do thay đổi đặc điểm của khái nhiệm ở thành tố phụ và ở thành tố chính. Trên cơ sở đó, nguyên nhân xuất phát từ nội tại ngôn ngữ và ngoại ngôn ngữ của hiện tượng đồng nghĩa cũng được xác định rõ.

10 Lỗi phát âm các phụ âm xát /θ/, /ð/, /s/ và /ʃ/ trong tiếng Anh / Dương Thị Hồng Thắm // .- 2024 .- Số 12(362) .- Tr. 52-57 .- 420

Bài viết này khảo sát lỗi phát âm các từ có chứa các phụ âm xát /θ/, /ð/, /s/, và /ʃ/ của 50 sinh viên năm thứ ba chuyên ngành Ngôn ngữ Anh của Trường Đại học Thương mại hay mắc phải. Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên gặp khó khăn nhất khi phát âm âm /ð/, sau đó đến âm /θ/, và /ʃ/ trong khi đó họ ít gặp khó khăn hơn với phụ âm /s/. Lỗi chủ yếu do sinh viên không phát âm âm đuôi hoặc nhầm lẫn âm ở vị trí đầu, giữa và cuối từ. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp cho việc dạy và học phát âm các phụ âm xát này.