CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
1 Phối hợp phong bế đa thần kinh ngoại vi với gây mê mask thanh quản cho bệnh nhân phẫu thuật thay khớp háng nguy cơ rất cao: Báo cáo ca lâm sàng / Hoàng Văn Tuấn, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Duy Thanh, Hồ Sỹ Hải, Nguyễn Phương Quỳnh, Nguyễn Văn Hoàng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 927-934 .- 610
Thay khớp háng ở bệnh nhân tăng áp động mạch phổi nặng, suy tim và bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ là thách thức gây lớn do nguy cơ tử vong cao cả khi gây mê toàn thân hoặc tê tủy sống. Chúng tôi báo cáo bệnh nhân nam 64 tuổi, 50 kg, ASA IV, gãy cổ xương đùi phải, phân số tống máu thất trái 31%, phân số thay đổi diện tích thất phải 28%, áp lực động mạch phổi tâm thu 79 mmHg, bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ. Mổ thay khớp háng toàn bộ đường sau-bên. Chiến lược vô cảm tránh hoàn toàn tê trục thần kinh; thay bằng phối hợp bốn phong bế thần kinh ngoại biên dưới siêu âm (thần kinh đùi, bịt nhánh trước và sau, bì đùi ngoài, mặt phẳng cơ dựng sống cùng) bằng 110mg ropivacaine 0,25% pha dexamethasone, kết hợp mê toàn thân mask thanh quản theo BIS, noradrenaline dự phòng và sugammadex. Huyết động ổn định, hậu phẫu tỉnh tốt, VAS 1/10 trong 12 giờ, không cần opioid bổ sung. Đây là chiến lược vô cảm khả thi và an toàn cho bệnh nhân nguy cơ cao.
2 Viêm phổi hoại tử và giãn phế quản lan tỏa có biến thể dị hợp tử CFTR c.4056G>C: Báo cáo ca bệnh hiếm gặp ở trẻ em Việt Nam / Lê Đức Quang, Lê Thị Hồng Hanh, Trịnh Thị Dung, Phạm Thu Nga // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 935-943 .- 610
Xơ nang (Cystic Fibrosis, CF) là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường do các đột biến gây bệnh ở gen CFTR, rất hiếm gặp ở các nước Châu Á trong đó có Việt Nam. Biểu hiện của bệnh thường bao gồm nhiễm trùng hô hấp tái diễn, viêm phế quản mạn tính và giãn phế quản tiến triển; trong một số trường hợp, bệnh nhân có thể xuất hiện các biến chứng nặng như viêm phổi hoại tử hoặc áp xe phổi. Chúng tôi báo cáo một trường hợp trẻ nam 4 tuổi nhập viện với biểu hiện viêm phổi nặng kèm nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn. Chụp cắt lớp vi tính ngực ghi nhận hình ảnh viêm phổi hoại tử và giãn phế quản lan tỏa 2 bên. Tiếp cận tìm nguyên nhân giãn phế quản khởi phát sớm, chúng tôi phát hiện biến thể dị hợp tử CFTR c.4056G>C (p.Gln1352His), gợi ý khả năng rối loạn liên quan tới bệnh xơ nang không điển hình. Ca bệnh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tìm kiếm bệnh lý nền ở trẻ có viêm phổi nặng kèm giãn phế quản xuất hiện sớm, đồng thời cho thấy vai trò của các thăm dò di truyền trong tiếp cận chẩn đoán căn nguyên giãn phế quản tại những quốc gia có tỷ lệ lưu hành CF thấp.
3 Cường giáp không liên quan đến cơ chế tự miễn do đột biến hoạt hóa gen TSHR: Báo cáo ca bệnh / Nguyễn Hoàng Lan, Vũ Chí Dũng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 944-950 .- 610
Cường giáp không liên quan đến cơ chế tự miễn (non-autoimmune hyperthyroidism, NAH) là bệnh lý hiếm gặp do các đột biến hoạt hóa gen mã hóa thụ thể hormone kích thích tuyến giáp (TSHR). Phần lớn các dữ liệu hiện nay về bệnh chủ yếu đến từ các báo cáo ca bệnh và các nghiên cứu với cỡ mẫu nhỏ do số lượng người bệnh được ghi nhận trên thế giới còn hạn chế. Chúng tôi báo cáo trường hợp trẻ nữ 2 tuổi xuất hiện lồi mắt từ 7 tháng tuổi, sau đó xuất hiện run đầu chi, nhịp tim nhanh và tăng cân kém. Xét nghiệm cho thấy cường giáp rõ với TSH < 0,005 mIU/L, FT4 > 100 pmol/L và T3: 9,31 nmol/L, trong khi các kháng thể tự miễn tuyến giáp đều âm tính. Tiền sử gia đình ghi nhận nhiều thành viên mắc cường giáp qua nhiều thế hệ, gợi ý kiểu di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường. Phân tích di truyền phát hiện biến thể dị hợp tử c.1514G>A (p.Ser505Asn) trên gen TSHR, được phân loại là biến thể có khả năng gây bệnh. Người bệnh được điều trị bằng methimazole và propranolol, đáp ứng tốt với cải thiện triệu chứng lâm sàng và các chỉ số chức năng tuyến giáp sau 15 tháng theo dõi. Trường hợp này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hướng tới nguyên nhân di truyền ở trẻ có biểu hiện cường giáp khởi phát sớm, đặc biệt khi các xét nghiệm tự miễn âm tính và có tiền sử gia đình phù hợp.
4 Viêm mũi xoang thai kỳ: Tổng quan tường thuật về chẩn đoán phân biệt và an toàn điều trị / Nguyễn Thị Phương Thảo, Kryukov Andrei Ivanovich // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 951-960 .- 610
Nghẹt mũi khi mang thai có cơ chế đa dạng gồm viêm mũi thai kỳ, viêm mũi dị ứng và viêm mũi xoang nhiễm khuẩn; phân biệt ba thực thể này quan trọng để chọn điều trị nhưng thiếu hướng dẫn cụ thể tại Việt Nam. Tổng quan này tổng hợp bằng chứng về dự đoán, hiệu quả và an toàn các biện pháp điều trị viêm mũi xoang ở phụ nữ mang thai, theo phương pháp tổng quan tường thuật theo SANRA, tìm kiếm hệ thống trên PubMed, Cochrane và Embase, đánh giá chất lượng theo GRADE. 38 nghiên cứu đủ tiêu chuẩn được đưa vào phân tích với chứng cứ từ thấp đến trung bình. Dấu hiệu gợi ý nhiễm khuẩn đáng tin cậy nhất gồm dịch mủ, đau vùng mặt, giảm khứu giác và triệu chứng kéo dài > 10 ngày. Nước muối và budesonide có hồ sơ an toàn tốt nhất trong thai kỳ. Kháng sinh chỉ nên dùng khi có bằng chứng nhiễm khuẩn. Viêm mũi xoang ở thai phụ cần đánh giá có hệ thống, điều trị theo thang bậc và dữ liệu tiến cứu tại Việt Nam để xây dựng hướng dẫn thực hành.
5 Hiệu quả can thiệp dinh dưỡng cho ung thư vòm mũi họng: Tổng quan và phân tích meta / Vũ Quang Huy, Nguyễn Công Hoàng, Trương Thị Thùy Dương, Tạ Phương Thuý, Nguyễn Thị Phương Thảo // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 961-974 .- 610
Suy dinh dưỡng xảy ra ở 53,6 – 80,5% bệnh nhân ung thư vòm mũi họng trong hóa xạ trị, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả điều trị. Bằng chứng về hiệu quả can thiệp dinh dưỡng đặc thù cho nhóm này còn hạn chế cần có đánh giá hệ thống hiệu quả can thiệp dinh dưỡng lên kết cục điều trị và chất lượng cuộc sống ở nhóm bệnh nhân trên. Tổng quan này tiến hành theo PRISMA 2020 (PROSPERO: CRD42022366089), tìm kiếm 6 cơ sở dữ liệu. Phân tích 10 RCT (n = 879) và 4 nghiên cứu phi-RCT; đánh giá sai lệch bằng ROB2.0, NOS, NHLBI; mức bằng chứng theo GRADE. Can thiệp dinh dưỡng cải thiện có ý nghĩa prealbumin (SMD = 0,256; p = 0,032), hemoglobin, lymphocyte (SMD = 1,125; p < 0,001) và giảm 25% viêm niêm mạc miệng. Albumin và BMI cải thiện rõ ở nhóm ≥ 70 Gy. PG-SGA > 3 kết hợp NLR ≥ 3 liên quan nguy cơ tử vong tăng 4,43 lần. Can thiệp dinh dưỡng toàn diện cải thiện dinh dưỡng, giảm độc tính và nâng cao chất lượng cuộc sống bệnh nhân trên. Khuyến nghị sàng lọc PG-SGA định kỳ, đặc biệt ở nhóm liều ≥ 70 Gy.
6 Nồng độ GDF-15 huyết thanh và giá trị tiên lượng biến cố suy tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da / Trần Viết An, Trần Thanh Hà // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 636-644 .- 610
Nghiên cứu quan sát tiến cứu, theo dõi dọc 6 tháng trên 93 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh từ tháng 06/2025 đến tháng 05/2026. Nồng độ GDF-15 huyết thanh trung vị lúc nhập viện là 252,78 pg/mL (IQR: 144,89 - 421,46), cao hơn có ý nghĩa ở bệnh nhân tăng huyết áp, hút thuốc lá, đái tháo đường và bệnh thận mạn (p < 0,05). Sau 6 tháng theo dõi, 14 bệnh nhân (15,1%) xuất hiện biến cố suy tim; nhóm này có nồng độ GDF-15 cao hơn rõ rệt so với nhóm không có biến cố (467,49 so với 223,97 pg/mL; p < 0,001). Nồng độ GDF-15 có giá trị tiên lượng biến cố suy tim với diện tích dưới đường cong ROC là 0,789 (KTC 95%: 0,66 - 0,92; p = 0,001). Điểm cắt 358,64 pg/mL cho độ nhạy 78,6% và độ đặc hiệu 72,2%. Nồng độ GDF-15 huyết thanh có giá trị khá tốt trong tiên lượng biến cố suy tim sau nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da.
7 Thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh đái tháo đường típ 2 / Nguyễn Văn Tuấn, Vũ Sơn Tùng, Đào Thị Thùy Trang // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 653-662 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 255 người bệnh đái tháo đường típ 2 đến khám và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7/ 2025 đến tháng 4/ 2026. Chúng tôi thực hiện với mục tiêu mô tả thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh đái tháo đường típ 2. Kết quả có 54,1% người bệnh đái tháo đường típ 2 có rối loạn giấc ngủ. Người bệnh có độ tuổi lớn lớn 60 chiếm tỉ lệ cao hơn là 62,3%. Thời gian ngủ trung bình mỗi đêm 3,9 ± 1,3. Có 63,8% người bệnh có số lần thức giấc trong đêm 1 - 2 lần/ đêm. 70,3% người bệnh có hiệu suất giấc ngủ rất kém (≤ 65%). Thể bệnh hay gặp nhất của rối loạn giấc ngủ là mất ngủ chiếm tỉ lệ 87,0%, hội chứng chân không yên chiếm 11,6% và rối loạn nhịp thức ngủ sinh học chiếm 1,4%. Chỉ số PSQI trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 8,7 ± 5,2%.
8 Kết quả điều trị chấn thương niệu đạo ở trẻ em tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Lê Quang Nam, Vũ Hồng Tuân, Nguyễn Việt Hoa // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 676-682 .- 610
Nghiên cứu hồi cứu trên 32 bệnh nhi được chẩn đoán chấn thương niệu đạo tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong giai đoạn từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2024 nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị. Kết quả của nghiên cứu cho thấy độ tuổi trung bình là 10,34 ± 3,92 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (68,8%). Triệu chứng lâm sàng gồm: bí tiểu (85,2%), chảy máu lỗ tiểu (29,6%). Chụp X-quang niệu đạo – bàng quang xuôi dòng và/hoặc ngược dòng là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán. Chấn thương niệu đạo sau chiếm tỷ lệ cao nhất 59,4%. Khâu nối niệu đạo tận – tận là phương pháp điều trị chính với tỷ lệ thành công là 52,4%, các biến chứng sau điều trị thường gặp gồm hẹp niệu đạo, tiểu không tự chủ. Chấn thương niệu đạo ở trẻ em là bệnh lý hiếm gặp và phức tạp nên việc chẩn đoán và điều trị tại cơ sở chuyên khoa với phẫu thuật viên có kinh nghiệm là yếu tố quan trọng nhằm giảm thiểu biến chứng.
9 Kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi toàn bộ xuyên sọ kẹp cổ túi phình tuần hoàn trước / Nguyễn Thế Hào, Phạm Quỳnh Trang, Phạm Văn Thành Công, Nguyễn Tất Đặng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 683-691 .- 610
Nội soi toàn bộ xuyên sọ (NSTBXS) kẹp cổ túi phình là hướng tiếp cận mới dùng ống nội soi làm phương tiện quan sát duy nhất, nhằm bảo tồn nhánh xuyên và loại trừ túi phình qua đường mổ nhỏ. Nghiên cứu mô tả tiến - hồi cứu 58 bệnh nhân phình động mạch tuần hoàn trước được phẫu thuật NSTBXS tại Bệnh viện Bạch Mai (11/2025 – 5/2026), đánh giá tính khả thi, an toàn và chất lượng quan sát nội soi. Tuổi trung bình 59,4 ± 9,3; túi phình thông trước 51,7%, não giữa 34,5%; 39,7% vỡ. Độ rõ phẫu trường tốt ở 93,1%; điều chỉnh clip sau kiểm tra nội soi 26,3%. Kẹp hoàn toàn 94,8%; không vén não 89,7%. Vỡ trong mổ 17,2%, tập trung ở nhóm vỡ trước mổ và đều được kiểm soát. Khi ra viện 100% đạt mRS 0–2; không tử vong nội viện. Kỹ thuật bước đầu khả thi và an toàn; chất lượng quan sát nội soi cao giúp tối ưu vị trí clip. Cần theo dõi dài hơn và nghiên cứu đối chứng để khẳng định giá trị.
10 Kết cục thai kỳ của những thai phụ con so nguy cơ thấp được khởi phát chuyển dạ bằng dinoprostone và bóng đôi / Trần Anh Đức, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Duy Ánh // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 692-703 .- 610
Nghiên cứu này nhằm ghi nhận kết cục thai kỳ của thai phụ con so nguy cơ thấp được khởi phát chuyển dạ (KPCD) bằng dinoprostone đặt âm đạo và bóng đôi. Nghiên cứu thuần tập tiến cứu so sánh được thực hiện trên các thai phụ con so nguy cơ thấp có tuổi thai từ 39⁰⁄₇ đến 40⁶⁄₇ tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, từ ngày 07/01/2021 đến ngày 31/12/2023. Trong số 410 thai phụ có 211 người được KPCD bằng dinoprostone và 199 trường hợp bằng bóng đôi, tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công của nhóm dinoprostone thấp hơn so với nhóm bóng đôi (66,8% so với 92%, p < 0,001). Tỷ lệ sinh đường âm đạo là 49,3% ở nhóm dinoprostone và 41,2% ở nhóm bóng đôi (RR = 1,2; 95%CI: 0,96 – 1,48). Dinoprostone liên quan đến tỷ lệ cơn co tử cung cường tính kèm bất thường nhịp tim thai (thai suy) cao hơn (2,8% so với 1,0%). Dinoprostone đặt âm đạo và bóng đôi cổ tử cung đều là các phương pháp KPCD hiệu quả và tương đối an toàn ở thai phụ con so nguy cơ thấp. Tuy nhiên dinoprostone có xu hướng liên quan đến tỷ lệ cơn co tử cung cường tính cao hơn so với nhóm bóng đôi.





