CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
1 Rối loạn cương dương sau phẫu thuật ung thư trực tràng tại Bệnh viện K / Đoàn Trọng Tú, Lương Công Chánh, Nguyễn Văn Cương, Khổng Văn Quang // .- 2026 .- Tập 205 - Số 6 .- Tr. 183-191 .- 610

Rối loạn cương dương là rối loạn chức năng tình dục hay gặp ở bệnh nhân nam giới sau phẫu thuật ung thư trực tràng. Chúng tôi nghiên cứu trên 107 bệnh nhân nam giới sau phẫu thuật ung thư trực tràng tại khoa Ngoại Tổng Hợp Quán Sứ và khoa Ngoại Tiêu Hóa II Bệnh viện K từ tháng 1/2023 đến tháng 6/2024. Kết quả: Tuổi trung bình trong nghiên cứu là 57,92 ± 8,37; có 24,3% bệnh nhân điều trị hóa xạ trị trước mổ; tỷ lệ phẫu thuật nội soi là 33,6%; phẫu thuật cắt trước và cắt trước thấp chiếm tỷ lệ 22,4% và 36,4%; rò tiêu hóa sau phẫu thuật là 7,4%. Thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật tỉ lệ rối loạn cương dương là 86,9% với điểm trung bình thang điểm IIEF-5 là 13,69 ± 5,53. Thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật rối loạn cương dương mức độ vừa chiếm tỉ lệ cao nhất 26,38% và điểm trung bình thang điểm IIEF-5 là 14,37 ± 5,57. Sau 12 tháng từ thời điểm phẫu thuật tỉ lệ rối loạn cương dương là 85,7%; tỉ lệ rối loạn cương dương mức độ nặng là 7,1%; điểm trung bình thang điểm IIEF-5 là 16,02 ± 5,09. Loại phẫu thuật, hóa xạ trị trước phẫu thuật và độ tuổi là những yếu tố liên quan đến rối loạn cương dương sau mổ với P lần lượt là 0,01; 0,02 và 0,02.

2 Kết quả trong 6 tháng sau thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng ở người bệnh xơ gan / Bùi Ngọc Hải, Phan Quốc Hưng, Lê Quang Hưng, Phạm Huy Lam, Đặng Đình Thắng, Lê Thu Loan, Nguyễn Phạm Tuấn Thành, Lê Tuấn Anh, Đào Việt Hằng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 199-206 .- 610

Nghiên cứu tiến cứu mô tả kèm theo dõi dọc nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả theo dõi trong 6 tháng của 179 người bệnh xơ gan có giãn tĩnh mạch thực quản được thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng tại Trung tâm Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (1/2024 - 8/2025). Tuổi trung bình của người bệnh là 61,21 ± 9,93. Nam giới chiếm đa số (88,3%). Phần lớn người bệnh có mức độ xơ gan Child Pugh A (52%); giãn tĩnh mạch thực quản độ III (98,3%). Giãn toàn bộ thực quản chiếm 57%, búi giãn có kích thước ≥ 5 mm; 91,1% và có dấu đỏ 92,2%. Đau ngực nhẹ và vừa sau thắt chiếm 20,1%. Sau 6 tháng theo dõi, người bệnh có xuất huyết tiêu hoá do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản là 2,8%; 40,8% người bệnh phải thắt lại tĩnh mạch thực quản ít nhất 1 lần. Việc sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc giúp giảm tỷ lệ phải thắt lại xuống còn 0,54 lần so với nhóm không dùng thuốc (95% CI không chứa 1). Thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng là phương pháp an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp. Tỷ lệ tái phát liên quan chặt chẽ đến mức độ tuân thủ điều trị thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc của người bệnh.

3 Kết quả điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên bằng phẫu thuật nội soi qua đường tiền đình miệng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội / Ngô Minh Trí, Nguyễn Xuân Hậu, Nguyễn Xuân Hiền, Nguyễn Diệu Linh, Lê Văn Quảng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 252-260 .- 610

Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng (PTNS TG TĐM) là kỹ thuật xâm lấn tối thiểu trong điều trị ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả của phương pháp này ở ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 01/2020 đến 07/2024. 30 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên được phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng cắt toàn bộ tuyến giáp, vét hạch cổ trung tâm hai bên; chỉ định iod phóng xạ theo ATA 2015. 96,7% bệnh nhân là nữ, tuổi trung bình 33,1 ± 8,6 (16 - 51). Thời gian mổ trung bình 103,8 ± 31,1 (65 - 190) phút, lượng máu mất trung bình 16,3 ± 8,7 (5 - 40) mL. Biến chứng tạm thời gồm suy cận giáp 10,0% và tổn thương thần kinh thanh quản quặt ngược 13,3%; không ghi nhận biến chứng vĩnh viễn. Di căn hạch cổ trung tâm tiềm ẩn gặp ở 46,7%. Sau 3 tháng, siêu âm cổ không phát hiện tồn dư; 4 trường hợp bất thường Tg/anti-Tg trở về bình thường sau 6 – 9 tháng. Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng là phương pháp an toàn, hiệu quả và thẩm mỹ cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên chọn lọc.

4 Đánh giá nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp bằng thang điểm SCORE2 / Nguyễn Văn Hùng, Phạm Khánh Minh, Tạ Thị Hương Trang // .- 2026 .- Tập 205 - Số 6 .- Tr. 207-213 .- 610

Viêm cột sống dính khớp là một bệnh lý viêm khớp mạn tính thuộc nhóm bệnh viêm khớp cột sống thể trục. Bệnh ảnh hưởng lên khớp, cột sống và các cơ quan ngoài khớp. Bệnh nhân viêm cột sống dính khớp có nguy cơ tim mạch tăng do sự kết hợp giữa viêm hệ thống và các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống. Đánh giá nguy cơ tim mạch của người bệnh viêm cột sống dính khớp giúp điều chỉnh yếu tố nguy cơ, cải thiện tiên lượng bệnh. Nghiên cứu được thực hiện trên 69 bệnh nhân viêm cột sống dính khớp tại Trung tâm Cơ Xương Khớp của Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2024 đến tháng 7/2025. Có 44,9% bệnh nhân có nguy cơ tim mạch thấp-trung bình, nguy cơ tim mạch cao là 40,6% và nguy cơ tim mạch rất cao là 14,5%. Nguy cơ tim mạch 10 năm ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp có liên quan đến tuổi, mức độ hoạt động bệnh, thời gian bị bệnh, giới và nồng độ CRP-hs. Đánh giá nguy cơ tim mạch cần được thực hiện thường quy ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp.

5 Giá trị của một số chỉ số huyết học mở rộng trong tiên lượng mức độ nặng của viêm tuỵ cấp không do nguyên nhân cơ học / Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Quang Tùng, Đường Thị Thúy Hường, Dương Thu Phương, Tống Thị Hương Lan // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 233-240 .- 610

Tiên lượng sớm mức độ nặng của viêm tụy cấp (VTC) đóng vai trò quan trọng trong định hướng điều trị. Nghiên cứu thuần tập hồi cứu trên 108 bệnh nhân (BN) VTC không do nguyên nhân cơ học tại thời điểm nhập viện. Giá trị tiên lượng mức độ nặng của các chỉ số huyết học mở rộng (Neut, NLR, PLR, HFLC%, MicroR, IG%…) được đánh giá qua diện tích dưới đường cong ROC (AUC) và chỉ số Youden. NLR và MicroR có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm VTC nặng (n = 20) và nhẹ (n = 88) với p < 0,05. Phân tích ROC cho thấy NLR có giá trị tiên lượng mức độ nặng tốt nhất với AUC = 0,709 (95% CI: 0,587 - 0,831; p = 0,004). Tại điểm cắt > 5,66, NLR dự báo diễn tiến nặng với độ nhạy 70,0% và độ đặc hiệu 61,4%. NLR và Neut đều có giá trị tiên lượng âm tính (NPV) cao, lần lượt là 90% và 93,2%. NLR và Neut hỗ trợ đắc lực cho bác sĩ lâm sàng trong phân tầng nguy cơ và tối ưu hoá xử trí BN VTC.

6 Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ của phổ bệnh viêm tủy thị thần kinh và bệnh lý liên quan tới kháng thể kháng MOG / Lê Văn Thủy, Trần Anh Tuấn, Lê Quang Cường // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 241-251 .- 610

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 42 trường hợp phổ viêm tủy thị thần kinh (NMOSD) dương tính với AQP4-IgG và 8 trường hợp bệnh lý liên quan đến kháng thể MOG (MOGAD) dương tính với MOG-IgG tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, nhằm so sánh đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) giữa hai nhóm. NMOSD có tỷ lệ nữ cao hơn (95,2% so với 62,5%) và tuổi khởi phát lớn hơn (44,9 so với 27,9 tuổi). Điểm EDSS (The Expanded Disability Status Scale – Thang điểm đánh giá mức độ tàn tật mở rộng) trung bình cao hơn ở nhóm NMOSD (3,6 so với 2,8). Viêm thần kinh thị hai mắt đồng thời gặp nhiều hơn ở MOGAD (50% so với 7,1%), trong khi hội chứng sàn não thất IV chỉ gặp ở NMOSD. Trên MRI, NMOSD có tỷ lệ tổn thương tủy sống lan rộng (Longitudinally Extensive Transverse Myelitis - LETM) cao hơn (58,5% so với 12,5%), kèm “bright spotty lesion” (ổ tăng tín hiệu dạng đốm sáng), tổn thương chất trắng quanh não thất và thân não. Ngược lại, MOGAD có xu hướng ưu thế tổn thương đoạn trước củathần kinh thị và bắt thuốc quanh bao (25% so với 2,4%). NMOSD và MOGAD có những khác biệt về đặc điểm lâm sàng và MRI, giúp định hướng chẩn đoán phân biệt trong thực hành.

7 Đặc điểm và kết quả khởi phát chuyển dạ bằng dinoprostone ở thai phụ có chỉ định chấm dứt thai kỳ và một số yếu tố liên quan / Phan Kim Phượng, Hồ Thị Thu Hằng, Ngũ Quốc Vĩ // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 261-270 .- 610

Nghiên cứu quan sát, mô tả trước-sau được thực hiện trên 178 thai phụ mang thai từ 37 tuần trở lên có chỉ định chấm dứt thai kỳ bằng dinoprostone tại Bệnh viện Phụ sản Tiền Giang từ 07/2025 đến 01/2026, nhằm mô tả đặc điểm thai phụ, đánh giá kết quả khởi phát chuyển dạ và phân tích một số yếu tố liên quan đến thất bại khởi phát chuyển dạ. Tuổi của thai phụ là 28,4 ± 5,9 tuổi, con so chiếm 56,7%, tổng điểm Bishop trước khởi phát chủ yếu là 1 điểm (54,5%) và 2 điểm (25,3%). Tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công bằng dinoprostone là 81,5%, cơn co tử cung cường tính chiếm 1,7% và suy thai chiếm 11,8%. Trong mô hình hồi quy logistic đa biến, tổng điểm Bishop < 3 và thai phụ con so là hai yếu tố liên quan độc lập với thất bại khởi phát chuyển dạ. Kết quả cho thấy dinoprostone đạt tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công khá cao và gợi ý vai trò của điểm Bishop ban đầu cùng tiền sử sinh trong tiên lượng đáp ứng với dinoprostone.

8 Kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng, làm miệng nối ngoài cơ thể điều trị ung thư đại tràng phải tại Bệnh viện K / Đoàn Trọng Tú, Trần Tuấn Thành, Nguyễn Văn Cương, Phạm Thế Dương // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 271-279 .- 610

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng điều trị ung thư đại tràng phải. Nghiên cứu mô tả trên 56 bệnh nhân ung thư đại tràng phải được phẫu thuật nội soi tại khoa Ngoại tiêu hoá 2 Bệnh viện K từ tháng 9/2023 đến tháng 9/2025. Thời gian phẫu thuật trung bình là 130,4 ± 24,6 phút (110 - 165 phút), không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở. 89,3% các trường hợp mạc treo toàn vẹn với số hạch vét được trung bình là 20,5 ± 9,1 hạch (10 - 28 hạch). Tỷ lệ biến chứng chung là 5,4%, bao gồm 1 trường hợp viêm phổi, 1 trường hợp chảy máu và 1 trường hợp áp xe tồn dư sau mổ, không có trường hợp nào rò miệng nối, mổ lại hoặc tử vong liên quan phẫu thuật. Thời gian nằm viện trung bình 7,9 ± 1,2 ngày (7 - 13 ngày). Phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng trong ung thư đại tràng phải cho kết quả sớm khả quan với tỷ lệ biến chứng thấp, bệnh nhân hồi phục sớm sau mổ.

9 Kích thước niệu quản trên cắt lớp vi tính và mối liên quan với các chỉ số nhân trắc / Ngô Xuân Khoa, Vũ Thành Trung, Võ Tiến Huy, Nguyễn Ngọc Ánh, Nguyễn Tuấn Sơn, Ngô Thuỳ Anh Ngọc // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 108-114 .- 610

Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan giữa chiều dài và đường kính niệu quản với các chỉ số nhân trắc cơ thể, đồng thời đánh giá giá trị của khoảng cách UPJ–UVJ trong ước tính chiều dài niệu quản trên cắt lớp vi tính hệ tiết niệu. Kết quả cho thấy khoảng cách UPJ–UVJ trung bình khoảng 18 cm và không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai bên hoặc giữa nam và nữ (p > 0,05). Không ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa giữa chiều dài hoặc đường kính niệu quản với chiều cao, cân nặng và BMI (r < 0,12; p > 0,05). Khoảng cách UPJ–UVJ có xu hướng tương quan dương với chiều dài niệu quản (r = 0,317), tuy nhiên chưa đạt ý nghĩa thống kê. Nhìn chung, kích thước niệu quản không cho thấy mối liên quan rõ ràng với các chỉ số nhân trắc.

10 Đặc điểm đa hình rs4244285 của gen CYP2C19 và một số yếu tố liên quan kết quả điều trị ở người bệnh trào ngược dạ dày thực quản / Nguyễn Văn Út, Kha Hữu Nhân, Đặng Duy Thanh, Nguyễn Thị Diễm // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 115-124 .- 610

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một trong những rối loạn tiêu hóa thường gặp. Đa hình rs4244285 của gen CYP2C19 ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển hóa một số thuốc nhóm PPIs, nhóm thuốc điều trị chính. Nghiên cứu can thiệp không đối chứng trên 90 người bệnh được chẩn đoán GERD có nội soi thực quản dạ dày từ 06/2025 đến 12/2025. Kết quả nghiên cứu: tuổi trung bình 60,5 ± 14,8, nữ chiếm 52,2%. Kiểu gen GG, GA và AA lần lượt chiếm 40,0%, 38,9% và 21,1%. Tần suất allele G là 59,4% và allele A là 40,6%. Tỷ lệ hết triệu chứng nóng rát và trớ sau điều trị đạt 82,2%. Điểm GERD-Q giảm có ý nghĩa từ trung vị 8,0 [7,0 – 10,0] còn 6,0 [5,0 – 8,0]. Kiểu gen GA+AA có khả năng đáp ứng điều trị cao hơn nhóm GG. Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị: nhóm tuổi 40 – 59, nhóm tuổi ≥ 60 và điểm GERD-Q trước điều trị càng cao thì khả năng đáp ứng điều trị càng tăng. Đa hình rs4244285 của gen CYP2C19 có tiềm năng hỗ trợ đánh giá kết quả điều trị GERD.