CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
41 Khảo sát tình trạng thiếu máu và các yếu tố liên quan truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng tại bệnh viện Nhi Đồng thành phố / Bùi Đoàn Xuân Linh, Huỳnh Nghĩa // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 183-191 .- 610

Khảo sát tình trạng thiếu máu và các yếu tố liên quan truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu trên 137 trẻ sinh non, dưới 7 ngày tuổi nhập viện tại bệnh viện Nhi Đồng Thành phố từ 8/2019 đến 3/2020. Kết quả: Tỉ lệ thiếu máu ở trẻ sơ sinh non tháng nhập viện trong vòng 7 ngày đầu đời là 26% (36/137 ca). Tỉ lệ truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng là 30,6% (42/137) trong đó nhóm thiếu máu lúc nhập viện: có 50% (18/36) trẻ sau đó có truyền máu trong 7 ngày đầu nhập viện, nhóm không thiếu máu lúc nhập viện mà thiếu máu xuất hiện trong 7 ngày đầu nhập viện, phải truyền máu: 23,7% (24/101). Nhóm tuổi thai < 32 tuần, nguy cơ truyền máu giảm 25% khi tuổi thai tăng thêm một tuần, nhiễm trùng làm tăng nguy cơ truyền máu lên 3,02 lần ở nhóm truyền máu so với nhóm không truyền máu (p < 0,05). Kết luận: Trong thực hành lâm sàng, chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng cần lưu ý chẩn đoán thiếu máu ở trẻ sinh non đặc biệt những trẻ có tuổi thai lúc sinh < 32 tuần hoặc những trẻ có CNLS< 1500g. Cần có hướng dẫn thực hành truyền máu cụ thể, thống nhất trong chọn chế phẩm máu ở trẻ sơ sinh và nhất là trong trường hợp chưa xác định được nhóm máu hệ ABO (ghi nhận tồn tại 2 quần thể hồng cầu ABO ở trẻ sơ sinh), thứ tự ưu tiên lựa chọn nhóm máu của chế phẩm máu hồng cầu lắng, tiểu cầu, huyết tương tươi đông lạnh trong trường hợp trẻ cần truyền nhiều chế phẩm máu cùng đợt nhập viện. Nên có những nghiên cứu khoa học đánh giá toàn diện và theo dõi các trẻ sinh non thiếu máu có chỉ định truyền máu về miễn dịch trước truyền máu và sau truyền máu.

42 Đánh giá rối loạn nuốt bằng kỹ thuật ghi chiếu huỳnh quang có thuốc cản quang ở người bệnh tổn thương não tại Bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi Chức năng Trung ương năm 2024 / Nguyễn Thị Hạnh, Cầm Bá Thức // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 218 - 222 .- 610

Đánh giá rối loạn nuốt bằng kỹ thuật ghi chiếu huỳnh quang có thuốc cản quang (Videofluoroscopic Swallow Study/VFSS) ở người bệnh tổn thương não tại Bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên người bệnh tổn thương não (n=29) được thực hiện kỹ thuật ghi chiếu huỳnh quang có thuốc cản quang tại bệnh viện từ 01/2024 – 12/2024. Kết quả: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nam giới (82,8%), trên 60 tuổi (69,0%). Nhồi máu não 16 NB (chiếm 55,2%), xuất huyết não 07 NB (24,1%), chấn thương não 05 NB (17,2%), viêm não 01 NB (3,4%). Kỹ thuật ghi chiếu huỳnh quang có thuốc cản quang giúp phát hiện rối loạn nuốt ở cả ba giai đoạn, với tỷ lệ rối loạn nuốt giai đoạn miệng, hầu và thực quản lần lượt là 65,5%, 55,2% và 6,9%. Trong và sau quá trình thực hiện kỹ thuật ghi chiếu huỳnh quang có thuốc cản quang chưa ghi nhận các tác động bất lợi đến người bệnh. Kết luận: Đánh giá nuốt bằng kỹ thuật ghi chiếu huỳnh quang có thuốc cản quang là phương pháp hiệu quả, giúp chẩn đoán và xây dựng kế hoạch phục hồi chức năng rối loạn nuốt cho người bệnh.

43 Đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ của bệnh đau đầu Migraine tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ / Nguyễn Thanh Diễm Duyên, Phạm Kiều Anh Thơ, Nguyễn Thế Luân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 226 - 229 .- 610

Phân tích một số đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ của bệnh đau đầu Migraine. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 86 bệnh nhân đau đầu Migraine điều trị tại khoa Nội thần kinh bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ. Đau nửa đầu Migraine được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Hội Chống Đau đầu Quốc tế (ICHD-3). Kết quả: Tuổi khởi phát bệnh là 44,3±15,73. Nữ giới chiếm 75,6%. Thể đau đầu Migraine có aura chiếm 29,1%. Triệu chứng đau nửa đầu kiểu mạch đập, kèm nôn, buồn nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng động, chóng mặt chiếm tỷ lệ lần lượt là 91,9%, 43,0%, 48,8%, 45,3%, 64.0%. Cường độ đau trung bình theo thang điểm VAS là 5,17±1,26. Có 17,4% bệnh nhân nữ ghi nhận cơn đau có liên quan đến kinh nguyệt. Một số yếu tố thuận lợi gây cơn bao gồm: rối loạn giấc ngủ (87,2%), lo âu (74,4%), thời tiết (7%), dùng chất kích thích, thức ăn (2,3%). Điểm HIT- 6 trung bình ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 56,83±2,64. Có 5,8% bệnh nhân ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, 73,3% ảnh hưởng đáng kể và 20,9% ảnh hưởng vừa phải. Kết luận: Migraine là bệnh lý thường gặp ở nữ giới (75,6%) với nhiều cơn đau mức độ trung bình, triệu chứng trong cơn đa dạng. Cơn đau nửa đầu Migraine không có aura (70,9%) và đau trung bình chiếm đa số. Bệnh gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

44 Hiệu quả của giáo dục sức khỏe bằng video cho thân nhân người bệnh có hậu môn nhân tạo tại bệnh viện Chợ Rẫy / Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Võ Nguyên Trung, Phùng Thanh Phong // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3DB2 .- Tr. 230 - 233 .- 610

Đánh giá hiệu quả chương trình giáo dục sức khỏe (GDSK) bằng video đối với kiến thức và thực hành chăm sóc hậu môn nhân tạo (HMNT) của thân nhân người bệnh (TNNB). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bán thực nghiệm được thực hiện trên 67 thân nhân người bệnh có hậu môn nhân tạo sau phẫu thuật, điều trị tại Khoa Ngoại tiêu hóa, Bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 09/2024 đến tháng 06/2025. Điểm kiến thức, thực hành được đánh giá trước, ngay sau và 2 tuần sau can thiệp thông qua bảng câu hỏi tự điền và bảng kiểm chăm sóc HMNT. Tần suất, tỷ lệ phần trăm, trung bình, độ lệch chuẩn, phép kiểm McNemar's chi2 được sử dụng với phần mềm Stata 17.0 được sử dụng nhằm mô tả, đánh giá tỷ lệ kiến thức đúng, thực hành đúng về chăm sóc HMNT của người bệnh. Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu đã chỉ ra sự thiếu hụt kiến thức của TNNB về HMNT, cách chăm sóc, theo dõi và xử lý biến chứng, dinh dưỡng. Tỷ lệ TNNB có kiến thức tốt về HMNT trước can thiệp là 1,5%; sau can thiệp là 85,1%. Tỷ lệ TNNB thực hành tốt về chăm sóc HMNT ngay sau can thiệp là 25,4%; sau can thiệp 2 tuần là 98,5%. Sự thay đổi trung bình tổng điểm kiến thức sau can thiệp là 15,9 ± 2,08 cao hơn so trước can thiệp là 5,8 ± 2,87. Sự thay đổi về trung bình tổng điểm thực hành sau can thiệp 2 tuần là 16,0 ±1,22 cao hơn so với ngay sau can thiệp là 12,3 ±1,95. Kết luận: GDSK bằng video cải thiện rõ rệt kiến thức và thực hành chăm sóc HMNT của TNNB, là phương tiện khả thi và hiệu quả trong điều kiện lâm sàng. Việc đánh giá hiệu quả chương trình GDSK bằng video giúp góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc hậu phẫu và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh có HMNT.

45 Khảo sát đặc điểm hình ảnh học cửa sổ trước ống lệ mũi và ứng dụng trong phẫu thuật nội soi xoang hàm / Lý Xuân Quang, Bùi Nguyên Thảo // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 237 - 241 .- 610

Khảo sát các đặc điểm hình thái học của cửa sổ trước ống lệ mũi trên phim chụp cắt lớp vi tính (CT-scan) mũi xoang và đánh giá khả năng ứng dụng của phẫu thuật tiếp cận xoang hàm bằng đường trước ống lệ mũi trên người bệnh (NB) Việt Nam. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 102 NB (204 bên) được chụp CT-scan mũi xoang tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ 12/2024 đến 06/2025. Các thông số được đo trên mặt phẳng axial bao gồm: độ rộng cửa sổ trước ống lệ mũi (AB), khoảng cách từ thành trước xoang hàm đến thành sau ống lệ mũi (AC), và độ rộng ống lệ mũi (BC). Phân loại độ rộng cửa sổ trước ống lệ mũi thành 3 nhóm theo Simmen: Nhóm I (<3 mm), Nhóm II (3-7 mm), và Nhóm III (>7 mm). Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 47,0 ± 14,6. Tỷ lệ nam/nữ là 1/1,4. Độ rộng trung bình của cửa sổ trước ống lệ mũi (AB) là 4,5 ± 2,3 mm. Khoảng cách trung bình từ thành trước xoang hàm đến thành sau ống lệ mũi (AC) là 13,9 ± 2,6 mm. Độ rộng trung bình ống lệ mũi (BC) là 9,4 ± 1,9 mm. Tỷ lệ phân bố các nhóm I, II, và III lần lượt là 29,4%, 55,4% và 15,2%. Tỷ lệ NB có thể thực hiện kỹ thuật PLRA (Nhóm II và III) là 70,6%. Có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về độ rộng cửa sổ trước ống lệ mũi giữa nam (5,2 ± 2,2 mm) và nữ (4,0 ± 2,0 mm) (p<0,05). Kết luận: Đặc điểm giải phẫu của cửa sổ trước ống lệ mũi ở dân số nghiên cứu phù hợp để triển khai kỹ thuật tiếp cận xoang hàm bằng đường trước ống lệ mũi trên phần lớn NB. Việc đánh giá các thông số này trên CT-scan trước mổ là cần thiết để lựa chọn đường tiếp cận phù hợp, đặc biệt cần thận trọng ở NB nữ do có xu hướng không gian hẹp hơn.

46 Thời gian sống còn và một số yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị Lơ Xê Mi kinh dòng bạch cầu hạt bằng Imatinib tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2019 - 2023 / Nguyễn Thu Chang, Bạch Quốc Khánh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 245 - 249 .- 610

Ước lượng tỷ lệ sống còn và một số yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị bệnh nhân LXMKDH có nhiễm sắc thể Ph (+) bằng Imatinib trong thời gian 5 năm tại Viện Huyết Học - Truyền Máu Trung Ương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả trên 798 bệnh nhân được chẩn đoán LXMKDH giai đoạn mạn tính có nhiễm sắc thể Ph (+), đang điều trị bằng Imatinib tại viện Huyết học - Truyền máu Trung Ương từ 01/01/2019 đến 31/12/2023. Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân sống toàn thể, tỷ lệ sống không tiến triển bệnh, tỷ lệ sống không triệu chứng sau thời gian theo dõi 5 năm lần lượt là 89,5%; 84,8% và 78,7%. Các yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị và thời gian sống còn của bệnh nhân là phân nhóm nguy cơ, giảm liều thuốc Imatinib và việc đạt được đáp ứng di truyền phân tử sớm tại thời điểm sau 3 tháng. Kết luận: Điều trị LXMKDH giai đoạn mạn tính bằng Imatinib cho bệnh nhân không phải nhóm nguy cơ cao hiện vẫn đạt được hiệu quả cao, giúp cải thiện thời gian sống thêm toàn bộ, thời gian sống thêm bệnh không triệu chứng và thời gian sống thêm bệnh không tiến triển.

47 Mức độ đau và lo lắng của trẻ em trong điều trị sâu răng : so sánh giữa laser Er:YAG và khoan cơ học / Lê Thị Thu Trang, Phạm Tuấn Khôi, Bùi Huỳnh Anh, Lê Trung Chánh, Trần Minh Hồng, Nguyễn Thị Nguyên Hương, Huỳnh Xuân Trúc, Phạm Lan Anh, Trần Viết Huyền, Lê Thị Hương, Võ Thị Kim Nguyên, Huỳnh Anh Kiệt, Từ Thị Huyền Trang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 241 - 245 .- 610

Trong điều trị sâu răng ở trẻ em, Laser Er:YAG là phương pháp xâm lấn tối thiểu, ít đau, ít rung và không gây tiếng ồn, từ đó cải thiện sự hợp tác của trẻ trong điều trị. Nghiên cứu nhằm so sánh mức độ đau, lo lắng giữa phương pháp laser Er:YAG với khoan cơ học ở răng vĩnh viễn của trẻ 9–12 tuổi. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, nửa miệng, làm mù trẻ và người phân tích được thực hiện ở 8 trẻ từ 9–12 tuổi có hai răng vĩnh viễn sâu tại Khoa Răng Trẻ Em – Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương TP.HCM. Các biến số khảo sát bao gồm: mức độ đau (thang đo Wong-Baker), mức độ lo lắng (thang Venham). Kết quả: Mức độ đau ở phương pháp laser Er:YAG thấp hơn khoan cơ học với p=0,083. Mức độ lo lắng khi sửa soạn bằng phương pháp laser Er:YAG thấp hơn so với khoan cơ học với p=0,031. Kết luận: Phương pháp laser Er:YAG có khả năng ứng dụng điều trị răng vĩnh viễn sâu xoang I theo mã ICDASTM 2,3 ở trẻ em.

48 Cải thiện tỷ lệ sử dụng thuốc chẹn Beta giao cảm ở bệnh nhân suy tim sau khi xuất viện do đợt cấp mất bù tại Viện Tim mạch Việt Nam thực hành điều trị suy tim theo AHA – GWTG / Phạm Minh Tuấn, Nguyễn Thị Thu Hoài // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 250 - 253 .- 610

Chẹn Beta giao cảm là một trong các thuốc nền tảng quan trọng trong điều trị bệnh nhân (BN) suy tim có phân suất tống máu giảm (HFrEF). Tuy nhiên, việc e ngại trước các tác dụng phụ hoặc tình trạng sung huyết của bệnh nhân suy tim khi xuất viện khiến cho việc sử dụng thuốc chẹn Beta giao cảm chưa thực sự mạnh mẽ. Điều này khiến cho việc tối ưu hoá trong điều trị suy tim bị cản trở, làm giảm đi tác dụng cải thiện chức năng tim ở những bệnh nhân này. Trong nghiên cứu này, chúng tôi hồi cứu đánh giá sự tiến bộ chỉ định dùng thuốc chẹn beta giao cảm trên nhóm BN HFrEF xuất viện sau đợt cấp mất bù tại viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai năm 2023 theo hướng dẫn của Hiệp hội tim mạch học Hoa kì – Get with the Guidelines (AHA-GWTG).

49 Đánh giá ảnh hưởng của thời gian và lực ly tâm tương đối đến số lượng và tỷ lệ thu hồi tiểu cầu trong điều chế huyết tương giàu tiểu cầu / Lê Thị Minh Hiền, Đỗ Thái Phượng, Nguyễn Đức Trường, Hứa Minh Tuân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 154 - 163 .- 610

Đánh giá ảnh hưởng của thời gian và lực ly tâm tương đối đến số lượng và tỷ lệ thu hồi tiểu cầu trong điều chế huyết tương giàu tiểu cầu. Phương pháp nghiên cứu: Ly tâm hai bước để điều chế PRP từ việc lấy mẫu máu của 100 sinh viên khoẻ mạnh có số lượng tiểu cầu ≥ 150G/l. Ly tâm bước 1 (ly tâm tách) với 4 phương án (mỗi phương án sử dụng 20 mẫu bệnh phẩm máu toàn phần, thể tích của mỗi mẫu dùng để ly tâm là 20ml), lực ly tâm lần lượt là 500g, 700g, 900g 1100g, thời gian ly tâm với mỗi lực trên là 05 phút. Sau ly tâm, lớp huyết tương phía trên được chuyển sang 1 ống trơn khác để ly tâm bước 2, còn phần hồng cầu bên dưới được loại bỏ. Ly tâm bước 2 (ly tâm ngưng tụ) theo 4 phương án sau (mỗi phương án sử dụng 20 mẫu huyết tương thu được sau ly tâm bước 1, thể tích mỗi mẫu là thể tích huyết tương thu được sau ly tâm bước 1) sử dụng các lực ly tâm lần lượt là 1000g trong 15 phút, 1500g trong 15 phút, 1000g trong 10 phút, 1500g trong 10 phút. Sau ly tâm, lớp huyết tương bên trên (huyết tương nghèo tiểu cầu) được loại bỏ, huyết tương giàu tiểu cầu ở bên dưới được tách sang ống vô trùng khác. Sau hai bước trên, chọn phương án ly tâm tối ưu (phương án 5 - sử dụng 20 mẫu bệnh phẩm mới) là lựa chọn lực ly tâm tương đối và thời gian cho kết quả số lượng trung bình tiểu cầu và tỷ lệ thu hồi cao nhất có được sau ly tâm bước 1, bước 2 của 4 phương án trên. Kết quả: Ly tâm bước 1 chúng tôi thấy phương án 3 (900g trong 5 phút) có số lượng và tỷ lệ thu hồi tiểu cầu cao nhất trong các phương án: số lượng tiểu cầu trung bình là 548,2 ± 65,85 G/l; tỷ lệ thu hồi tiểu cầu là 90,51±9,3%. Sau ly tâm bước 2, thu được số lượng và tỷ lệ thu hồi tiểu cầu cao nhất ở phương án 2 với kết quả là 973,8 ± 148,88 G/l và 82,43±7,14%. Các điều kiện ly tâm tách tối ưu được hình thành đưa vào phương án 5 và thu được kết qủa trước ly tâm số lượng trung bình tiểu cầu là 294,2± 45,44G/l. Ly tâm bước 1 (sử dụng 20 mẫu bệnh phẩm máu toàn phần, mỗi mẫu có thể tích 20ml) với lực ly tâm 900 g trong 5 phút thu được số lượng tiểu cầu trung bình là 541,75 ± 83,75 G/l, tỷ lệ thu hồi là 90,84 ± 3,43 %. Bước 2 (sử dụng 20 mẫu huyết tương thu được từ sau ly tâm bước 1, thể tích mỗi mẫu là thể tích huyết tương thu được sau ly tâm bước 1) với lực ly tâm 1500 g trong 15 phút, số lượng tiểu cầu trung bình là 1102 ± 114,81 G/l và tỷ lệ thu hồi tiểu cầu là 82,9 ± 4,43 %. Số lượng tiểu cầu thu được ở sản phẩm cuối cùng tăng lên khoảng 3,75 lần so với mẫu ban đầu. Kết luận: Qua nghiên cứu chúng tôi đưa ra được lực ly tâm tương đối và thời gian ly tâm tối ưu để điều chế PRP như sau: Bước 1 sử dụng lực ly tâm 900g trong 5 phút, bước 2 sử dụng lực ly tâm 1500 g trong 15 phút. Với ly tâm bước 1 thu được số lượng tiểu cầu trung bình là 541,75 ± 83,75 G/l, tỷ lệ thu hồi là 90,84 ± 3,43 %. Ly tâm bước 2 thu được số lượng tiểu cầu trung bình là 1102 ± 114,81 G/l, tỷ lệ thu hồi là 82,9 ± 4,43 %. Số lượng tiểu ở sản phẩm cuối cùng tăng lên khoảng 3,75 lần so với mẫu ban đầu.

50 Kết quả truyền khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho trên bệnh nhân phẫu thuật tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Lưu Thị Tố Uyên, Vi Quỳnh Hoa, Quách Chính Nghĩa, Nguyễn Hữu Tới, Trần Ngọc Quế // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 147 - 153 .- 610

Đánh giá kết quả truyền khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho trên bệnh nhân (BN) phẫu thuật tại bệnh viện hữu nghị (HN) Việt Đức. Đối tượng và phương pháp: 128 BN phẫu thuật được chỉ định khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho được nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc. Kết quả: Số BN chảy máu sau 1 giờ, 24 giờ truyền khối tiểu cầu (KTC) gạn tách giảm tương ứng từ 46,9% xuống 17,2%; 5,5%. Số lượng tiểu cầu sau truyền 1 giờ, 24 giờ lần lượt là: 117,41G/l; 99,66G/l tăng 53,55G/l và 35,80G/l so với trước truyền. Tỷ lệ BN có phản ứng sau truyền KTC gạn tách sốt, dị ứng là 0,78%; 3,1%. Kết luận: Sau truyền KTC gạn tách 1 giờ, 24 giờ: tình trạng chảy máu của BN giảm, số lượng tiểu cầu (SLTC) tăng trên 30G/l, tỷ lệ tai biến sau truyền thấp.