CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Y

  • Duyệt theo:
41 Một số đặc điểm giải phẫu bệnh của ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy / Thiều Mạnh Cường, Bùi Thị Mỹ Hạnh, Lê Thị Thu Thủy // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 207 - 214 .- 610

Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy (UTBMTGTT) là u ác tính ít gặp, có hình thái rất đa dạng, dễ gây nhầm lẫn trong chẩn đoán. Việc nhận diện các hình thái này và xác định tỉ lệ bộc lộ của một số dấu ấn hóa mô miễn dịch (HMMD) giúp ích nhiều trong chẩn đoán vi thể. Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm đại thể, vi thể và bộc lộ hóa mô miễn dịch của UTBMTGTT. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập được 68 trường hợp được chẩn đoán UTBMTGTT trên bệnh phẩm phẫu thuật, tại bệnh viện K cơ sở Tân Triều từ tháng 01 năm 2017 đến hết tháng 06 năm 2024. Kết quả: U chủ yếu gặp ở một bên thùy giáp (89,7%), đa số u có kích thước từ 1 cm trở xuống (45,6%). Kiểu hình thông thường và hình thái tế bào đa diện hay gặp nhất (>80%), kiểu hình nang, nhú, tế bào thoi và dạng tương bào hiếm gặp. 79,4% u quan sát thấy lắng đọng amyloid. U bộc lộ cao với các dấu ấn thần kinh nội tiết: 100% dương tính với CD56; 90,5% dương tính với synaptophysin; 83,7% với chromogranin A. CEA và calcitonin dương tính với tỉ lệ lần lượt là 91,7% và 90,5%. Kết luận: UTBMTGTT rất đa dạng về cả cấu trúc lẫn hình thái tế bào. Các dấu ấn thần kinh nội tiết và CEA, calcitonin có tỉ lệ bộc lộ cao, giúp ích trong chẩn đoán xác định.

42 Nghiên cứu áp dụng hệ thống xếp độ mô học quốc tế cho ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy / Thiều Mạnh Cường, Bùi Thị Mỹ Hạnh, Lê Thị Thu Thủy // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 215 - 221 .- 610

Ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy (UTBMTGTT) là u ác tính ít gặp, tuy chỉ chiếm 2% u ác tính ở tuyến giáp nhưng chiếm tới 8% số trường hợp tử vong do ung thư giáp. Trước đây, UTBMTGTT chưa từng được xếp độ mô học. 5 năm gần đây, việc xếp độ mô học cho UTBMTGTT bắt đầu được nghiên cứu, dựa trên đánh giá mô bệnh học và nhuộm hóa mô miễn dịch với Ki-67. Từ đây, người ta nhận thấy u độ cao và độ thấp có khác biệt lớn trong tiên lượng bệnh.

43 Khảo sát giá trị phương pháp tế bào học, sinh thiết tức thì trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp dạng nhú / Ngô Thị Tuyết Hạnh, Hà Thị Anh, La Hoài Thành // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 222 - 230 .- 610

Nghiên cứu nhằm khảo sát tỷ lệ ung thư tuyến giáp dạng nhú trong nhóm người bệnh u tuyến giáp được phẫu thuật và giá trị phương pháp xét nghiệm tế bào học, sinh thiết tức thì trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp dạng nhú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy số liệu kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên 125 người bệnh u tuyến giáp tại khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 01/2024 đến tháng 08/2024. Kết quả: Trong 125 đối tượng người bệnh u tuyến giáp, tỷ lệ chẩn đoán xác định ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nhú chiếm 68,0%. Giá trị của phương pháp tế bào học: Độ nhạy đạt 68,2%, độ đặc hiệu đạt 90,0%, độ chính xác đạt 75,2%, giá trị dự báo dương tính đạt 93,5% và giá trị dự báo âm tính đạt 57,1%. Giá trị của phương pháp sinh thiết tức thì: Độ nhạy đạt 98,8%, độ đặc hiệu đạt 95,0%, độ chính xác đạt 97,6%, giá trị dự báo dương tính đạt 97,7% và giá trị dự báo âm tính đạt 97,4%. Kết luận: Kết quả nghiên cứu chứng minh giá trị của phương pháp sinh thiết tức thì (độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán âm tính và giá trị tiên đoán dương tính) đối với u tuyến giáp.

44 Ung thư biểu mô tế bào nhỏ nguyên phát ở dạ dày báo cáo ca bệnh và hồi cứu y văn  / Dương Duy Hưng, Hà Kiều Trang, Trương Hoàng Yến Vy // .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 231 - 236 .- 610

Ung thư biểu mô tế bào nhỏ nguyên phát ở dạ dày (PSCGC) là ung thư biểu mô thần kinh nội tiết (NEC) độ cao, mức độ biệt hoá kém có nguồn gốc từ hệ thống thần kinh nội tiết dạ dày-ruột-tụy, và có những đặc điểm tương đồng với ung thư phổi loại tế bào nhỏ. Bệnh rất hiếm gặp, chỉ chiếm tỉ lệ dưới 0,1% các trường hợp ung thư dạ dày và xảy ra chủ yếu ở nam giới. Chúng tôi báo cáo một trường hợp: bệnh nhân nam, 54 tuổi, ung thư biểu mô thần kinh nội tiết loại tế bào nhỏ ở dạ dày được phát hiện khi đã di căn gan, mạc treo và hạch ổ bụng mà có sự không tương hợp giữa lâm sàng, nội soi và hình ảnh học, và chỉ được khẳng định trên mô bệnh học. Kết luận: Ung thư biểu mô tế bào nhỏ ở dạ dày rất hiếm gặp và tiên lượng xấu. Quá trình sinh bệnh, các phương pháp chẩn đoán và điều trị hiệu quả đặc biệt ở giai đoạn tiến triển cần được nghiên cứu nhiều hơn trong thời gian tới.

45 Tỷ lệ và đặc điểm giải phẫu bệnh polyp dạ dày / Lê Minh Huy, Nguyễn Thị Thu Thảo // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 249 - 254 .- 610

Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ và các đặc điểm giải phẫu bệnh của polyp dạ dày, cũng như đánh giá mối liên quan giữa các đặc điểm mô học của chúng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu được thực hiện trên các bệnh nhân đã nội soi cắt polyp tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2023. Nghiên cứu bao gồm 568 mẫu sinh thiết từ 545 bệnh nhân được chẩn đoán có polyp dạ dày. Các mẫu được tiến hành kiểm tra mô bệnh học và phân tích thống kê nhằm xác định các mối tương quan giữa các đặc điểm lâm sàng và mô học. Kết quả: Polyp không tân sinh chiếm đa số (89,4%), trong đó polyp tuyến đáy vị (80,8%) là loại phổ biến nhất, tiếp theo là polyp tăng sản (8,6%). Polyp tân sinh hiếm gặp (0,6%), bao gồm u tuyến và các giai đoạn sớm của ung thư biểu mô. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 56,2 tuổi, và nữ giới chiếm tỷ lệ chủ yếu (81,3%). Phần lớn polyp nằm ở thân vị (84%), và 87,3% có kích thước nhỏ hơn 10 mm. Có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa kích thước polyp với tình trạng viêm và nghịch sản (p <0,001). Các polyp lớn hơn có nguy cơ nghịch sản cao hơn, trong khi không có mối liên quan đáng kể giữa kích thước polyp và nhiễm Helicobacter pylori. Kết luận: Polyp dạ dày phần lớn là không tân sinh, với polyp tuyến đáy vị là loại phổ biến nhất. Nữ giới, đặc biệt ở độ tuổi 50-69, bị ảnh hưởng nhiều hơn. Các polyp lớn hơn có liên quan đến nguy cơ nghịch sản cao hơn, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và quản lý đúng cách để ngăn ngừa chuyển dạng ác tính.

46 Báo cáo một trường hợp hiếm gặp : chuyển dạng ác tính của u quái trưởng thành ở ruột non / Dương Thu Anh, Nguyễn Hoàng Vinh, Trần Hương Giang // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 255 - 261 .- 610

U quái trưởng thành là loại u tế bào mầm thường gặp nhất của buồng trứng, chiếm khoảng 20% tổng số các loại u buồng trứng. U quái chuyển dạng ác tính rất hiếm gặp, chỉ dưới 2%. Trong đó, thành phần biểu mô chuyển dạng ác tính thường gặp nhất là carcinôm tế bào gai, chiếm khoảng 80%, tiếp đến là carcinôm tuyến chiếm khoảng 7%. U quái nguyên phát ở ruột non là cực kì hiếm gặp, trên thế giới chỉ ghi nhận 5 trường hợp được báo cáo trên y văn, tuy nhiên tất cả trong số đó đều là lành tính. Chúng tôi ghi nhận một trường hợp u quái trưởng thành ở ruột non với chuyển dạng ác tính đồng thời cả thành phần tế bào gai và thành phần tuyến. Bệnh nhân nam 49 tuổi được nhập viện vì đau bụng hạ sườn trái âm ỉ diễn tiến một tháng nay. Chụp cắt lớp vi tính có cản quang cho thấy một khối u ở đoạn gần hỗng tràng với kích thước 8x8,5cm với đậm độ không đồng nhất. Vi thể cho thấy các tế bào u gồm cả thành phần carcinôm tế bào gai và carcinôm tuyến, xâm nhập đến lớp dưới niêm, xuất phát trên nền u quái trưởng thành ở hỗng tràng.

47 Nghiên cứu tình trạng nảy chồi u trong ung thư biểu mô đại trực tràng / Đào Thị Luận, Đỗ Thị Yến, Nguyễn Văn Chủ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 262 - 268 .- 610

Ung thư đại trực tràng là bệnh lý ác tính thường gặp nhất của đường tiêu hóa với tỷ lệ tử vong cao. Típ thường gặp nhất trong ung thư biểu mô đại trực tràng là típ tuyến thông thường. Nảy chồi u là một yếu tố tiên lượng quan trọng liên quan đến di căn hạch, di căn xa, tái phát tại chỗ, thời gian sống thêm toàn bộ và không bệnh xấu hơn. Mục tiêu nghiên cứu: xác định tình trạng nảy chồi u và mối liên quan giữa nảy chồi u với một số đặc điểm mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả trên 107 người bệnh chẩn đoán ung thư biểu mô đại trực tràng nguyên phát tại Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2017 và 2018. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân tại thời điểm phát hiện bệnh là 63,33±12,68 tuổi, trong đó nhóm tuổi 60-69 chiếm tỷ lệ nhiều nhất (36,4%). Tỷ lệ nam/nữ là 1,23/1. Vị trí u găp nhiều nhất là trực tràng (30,8%), thứ 2 là đại tràng sigma (24,3%). Kích thước u từ 4,5cm chiếm tỷ lệ 51,4%. Phần lớn các trường hợp là ung thư biểu mô tuyến thông thường (83,2%) và biệt hóa vừa (80,4%). Mức độ xâm lấn trên vi thể cho thấy xâm lấn đến dưới thanh mạc hoặc mô xung quanh đại trực tràng (pT3) chiếm tỷ lệ nhiều nhất (57,0%). Tỷ lệ di căn hạch là 42,1%, tỷ lệ xâm nhập mạch và thần kinh lần lượt là 39,3% và 36,4%. Tỷ lệ nảy chồi u độ thấp chiếm 61,7%, độ cao chiếm 17,8%. Tỷ lệ nảy chồi u độ cao ở nhóm có độ xâm lấn sâu, kém biệt hóa, xâm nhập mạch, thần kinh và di căn hạch là cao hơn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05). Kết luận: Nảy chồi u độ cao là yếu tố tiên lượng xấu trong ung thư biểu mô đại trực tràng

48 Nghiên cứu tình trạng nảy chồi u trong ung thư biểu mô đại trực tràng / Trương Hoàng Yến Vy, Hoàng Thị Hoàng Uyên, Nguyễn Vũ Thiện // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 262 - 268 .- 610

Tổn thương tân sinh ống nhú trong túi mật chiếm 0,4% đến 1,5% các trường hợp cắt túi mật. Phân loại u hệ tiêu hóa của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2019 đã có thay đổi trong nhóm u biểu mô lành và tổn thương tiền ung thư của túi mật, bao gồm: u tuyến môn vị, tân sinh trong biểu mô đường mật (BilIN) và tân sinh nhú trong túi mật (ICPN) do khả năng tiến triển thành ung thư khác nhau. Tổn thương loạn sản ở túi mật có thể tiến triển thành UTTM và tăng nguy cơ phát triển ung thư tại các phần khác của đường mật. Hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu áp dụng bảng phân loại Tổ chức Y tế Thế giới 2019 cho các tổn thương trong nhóm này của túi mật ở Việt Nam. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm mô bệnh học u biểu mô lành và tổn thương tiền ung túi mật theo Tổ chức Y tế Thế giới 2019. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu báo cáo loạt ca bệnh trên 56 trường hợp u biểu mô lành và tổn thương tiền ung của túi mật được chẩn đoán tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2022. Kết quả: Trong 95 trường hợp trường hợp u biểu mô được chẩn đoán trên giải phẫu bệnh, chúng tôi ghi nhận có 56 trường hợp (58,95%) được xếp vào nhóm u biểu mô lành và tổn thương tiển ung. Tuổi trung bình: 49,63 ± 15,31 tuổi, lớn nhất là 87 tuổi, nhỏ nhất là 20 tuổi. Tỷ lệ nữ/nam = 1,4/1. Trong 56 ca bệnh có 4 ca u tuyến môn vị (7,14%), 11 ca BilIN (19,64%) (với 6 ca (54,55%) độ thấp, 5 ca (45,45%) độ cao), và 41 ca ICPN (73,21%) (với 32 ca (78,05%) độ thấp, 9 ca (21,95%) độ cao), cầu dạng gai hiện diện ở 11/56 trường hợp, 37,5% trường hợp có kèm viêm túi mật mạn. Trên đại thể, tổn thương dạng polyp chiếm 60,71%, thường gặp ở đáy túi mật. Kết luận: Nhóm u biểu mô lành và tổn thương tiền ung thư của túi mật là tổn thương ít gặp với đặc điểm mô bệnh học đa dạng, dễ chồng lấp, cần sự kết hợp chặt chẽ của lâm sàng, hình ảnh học trong xác định đặc tính của tổn thương.

49 Mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh của sarcôm tạo xương với dấu ấn SATB2 / Ngô Quốc Đạt, Diệp Thế Hoà, Lý Thanh Thiện, Dương Thanh Tú, Vũ Tuấn Dũng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 465 - 472 .- 610

Khảo sát mối liên quan giữa biểu hiện SATB2 với đặc điểm tuổi, giới, hình ảnh học Xquang và mô bệnh học của sarcôm tạo xương. đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu gồm 115 trường hợp được chẩn đoán sarcôm tạo xương theo bảng phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2020 về u phần mềm và xương tại Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2022. Kết quả: Dấu ấn SATB2 biểu hiện độc lập với hầu hết các đặc điểm về lâm sàng như tuổi, giới, hình ảnh học cũng như đặc điểm về mô bệnh học như phân nhóm mô học, chất dạng xương, thành phần sụn, phân bào hay hoại tử. Nghiên cứu ghi nhận các trường hợp nguyên bào sợi có biểu hiện SATB2 yếu hơn và đặc điểm chất dạng xương sẽ liên quan với mức độ biểu hiện SATB2 mạnh hơn. Kết luận: Dấu ấn SATB2 thể hiện vai trò trong biệt hoá chất dạng xương và kém biểu hiện hơn ở phân nhóm mô học nguyên bào sợi. Cần thêm các nghiên cứu đánh giá về mức độ biểu hiện SATB2 với ngưỡng cắt phù hợp.

50 Đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch sarcoma màng hoạt dịch tại Bệnh viện K / Trần Thị Phương Uyên, Bùi Thị Mỹ Hạnh, Lương Viết Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD2 .- Tr. 481 - 489 .- 610

Mô tả đặc điểm mô bệnh học của sarcoma màng hoạt dịch; xác định tỉ lệ bộc lộ của một số dấu ấn hóa mô miễn dịch và đối chiếu với típ mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện ở 50 trường hợp sarcoma màng hoạt dịch được chẩn đoán dựa trên đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch tại Trung tâm Giải phẫu bệnh và Sinh học phân tử Bệnh viện K từ tháng 1/2018 đến tháng 7/2024. Kết quả: Dưới típ mô bệnh học tế bào hình thoi phổ biến nhất (72%), tiếp theo là hai pha (20%) và kém biệt hóa (8%). TLE1 và SS18- SSX có tỷ lệ bộc lộ cao nhất, lần lượt là 98% và 92%. Kết luận: Sarcoma màng hoạt dịch có đặc điểm hình thái và dấu ấn hóa mô miễn dịch đa dạng. Kháng thể SS18-SSX có vai trò quan trọng trong chẩn đoán, đặc biệt trong điều kiện hạn chế về xét nghiệm sinh học phân tử.